.............

...........

Bện rò hậu môn

Bệnh rò hậu môn là bệnh gì ?
Là bệnh gây ra do nhiễm trùng ở các khe và nhú trong ống hậu môn , từ đó làm viêm và tụ mủ ở các tuyến hậu môn ở giữa hai cơ thắt hậu môn , sau đó phá miệng ra da vùng cạnh hậu môn . Từ dân gian thường dùng để mô tả bệnh này là bệnh mạch lươn
Nguyên nhân nào gây ra rò hậu môn ?
Áp xe quanh hậu môn và rò hậu môn là do cùng nguyên nhân và thể hiện trên lâm sàng hai dạng khác nhau, áp xe ở dạng cấp tính và rò ở dạng mãn tính.
Nguyên nhân rò là do viêm nhiễm xuất phát từ tuyến hậu môn do vi khuẩn như trực khuẩn coli, tụ cầu trùng, liên cầu trùng…
Ngoài ra có nhiều bệnh lý có thể đưa đến rò hậu môn :
Bệnh lao
Bệnh Crohn
Nấm actinomycosis
Dị vật vùng hậu môn và tầng sinh môn
Ung thư hậu môn trực tràng
Chấn thương do đụng đập, do phẫu thuật như phẫu thuật tiền liệt tuyến, cắt tầng sinh môn lúc sanh, mổ trĩ
Chiếu xạ vùng chậu
Ung thư bạch huyết
Tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ : 4/1
Tuổi mắc bệnh thường từ 30 – 50 tuổi
Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh ?
Bệnh nhân bị nhiễm trùng quanh hậu môn thường có xu hướng đến khám sớm, 2-3 ngày sau triệu chứng đầu tiên xuất hiện, với triệu chứng đau và có một khối căng sờ được ở rìa lỗ hậu môn. Bệnh nhân với áp xe ở sâu hơn có xu hướng đến bệnh viện trễ hơn, với những than phiền mơ hồ hơn, có sốt và thấy 1 khối căng, đổi màu da quanh hậu môn
Bệnh nhân với lỗ rò đã hình thành thường có tiền sử có những cơn đau ngắt quãng và mủ chảy ra từ một lỗ ở tầng sinh môn, cơn đau tăng lên khi mủ không chảy ra và giảm đau khi có mủ thoát ra. Trường hợp có lỗ trong ở trực tràng to thì có thể thấy phân chảy ra ở lỗ rò ngoài
Nếu bệnh nhân bị áp xe quanh hậu môn, nhìn sẽ thấy một khối phồng căng ở cạnh hậu môn, đè lên khối phồng đó rất đau
Nếu bệnh nhân bị rò hậu môn nhìn sẽ thấy có một mụn mủ nổi lên cạnh hậu môn, trên mặt mụn mủ có một mài, nặn mụn mủ đó thấy có ít giọt mủ chảy ra. Do mụn mủ chảy mủ từng đợt và lượng mủ không nhiều, nên bệnh nhân thường bỏ qua không đi khám, chỉ đến khi mụn mủ chảy mủ nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày bệnh nhân mới chịu đi khám bệnh
ự thành công trong phẫu thuật rò hậu môn tùy thuộc vào sự phát hiện mối liên quan giữa đường rò và giải phẫu của vùng hậu môn
Nếu không biết được mối liên quan này thì thường dẫn đến thất bại trong phẫu thuật và kết quả là rò tái phát hay đi cầu mất tự chủ. Vì vậy phân loại thương tổn giải phẫu bệnh của đường rò là điều rất quan trọng. Bảng phân loại này gồm 4 nhóm chính :
Giữa hai cơ thắt
Xuyên cơ thắt
Trên cơ thắt
Ngoài cơ thắt
Ngoài các nhóm chính này, có thể có thêm các nhánh phụ hay những đường rò thứ phát. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của điều trị rò. Do đó đến nay người ta cần phải biết chính xác hình ảnh thương tổn của đường rò trước khi phẫu thuật
Làm sao chẩn đoán chính xác loại thương tổn rò hậu môn ?
Khi bệnh nhân có các triệu chứng đến khám, các bác sĩ sẽ dựa vào lời khai bệnh và thăm khám ở vùng hậu môn, phát hiện ra một lỗ rò chảy mủ cạnh hậu môn, sau khi loại ra được các nguyên nhân đặc hiệu đã kể ở trên, bệnh nhân sẽ được chẩn đoán là rò hậu môn
Sau đó, bệnh nhân sẽ được đi làm siêu âm hậu môn, đây là máy siêu âm hiện đại với đầu dò đặt trong lòng hậu môn, qua siêu âm này, các bác sĩ có thể vẽ được hình ảnh của đường rò trên không gian 3 chiều một cách chính xác, và phương pháp chẩn đoán hình ảnh này chính xác hơn phương pháp chụp đường rò có bơm thuốc cản quang gấp nhiều lần
Nhờ vào siêu âm này, các bác sĩ biết được chính xác hình ảnh, vị trí và đường đi của đường rò, từ đó chúng tôi chẩn đoán được loại rò mà bệnh nhân mắc phải và áp dụng loại phẫu thuật thích hợp cho từng loại đường rò, do đó kết quả khả quan hơn nhiều và tỷ lệ tái phát rất thấp
Siêu âm qua hậu môn bằng đầu rò chuyên biệt này giúp ta đánh giá và phát hiện các ổ áp xe và các đường rò giữa cơ thắt và xuyên cơ thắt. Ngày nay siêu âm qua hậu môn là phương pháp được đánh giá là rẻ tiền nhất và là tiêu chuẩn vàng trong việc đánh giá toàn bộ cơ vòng trong và ngoài, phát hiện các đường rò và các ổ áp xe vùng hậu môn
Điều trị như thế nào ? Nguyên tắc điều trị ?
Nếu loại áp xe cạnh hậu môn cần phải được rạch tháo mủ càng sớm càng tốt tránh ổ mủ lan tràn tạo thành các đường hầm như mạch lươn làm hư hại nhiều tổ chức ở vùng hậu môn.
Nếu là rò hậu môn, cần phải chẩn đoán chính xác thương tổn rò qua siêu âm và phải phẫu thuật cắt bỏ được mô xương đường rò, nhưng phải bảo vệ an toàn cơ thắt hậu môn vì tai biến cắt đứt cơ thắt làm cho bệnh nhân đi cầu mất tự chủ là một tai biến rất đáng ngại hơn nhiều so với bệnh rò. Vì vậy để bảo vệ cơ thắt hậu môn khi mổ, người ta thường sử dụng phương pháp cột dây thun để cắt dần cơ thắt này, việc cột dây thun này còn có tác dụng dẫn lưu mủ và an toàn cho phẫu thuật đường rò. Việc cột dây thun này có 2 tácdụng :
Bảo vệ sự toàn vẹn cơ thắt hậu môn
Dẫn lưu ổ nhiễm trùng và làm thay đổi tình trạng nhiễm trùng cấp tính

Thang điểm Glasgow

Thang điểm hôn mê Glasgow (tiếng Anh: Glasgow Coma Scale) là một phương pháp đánh giá tình trạng ý thức của người bệnh một cách lượng hóa. Được thiết lập để lượng giá độ hôn mê của nạn nhân bị chấn thương đầu, hiện nay người ta còn dùng thang điểm Glasgow trong những trường hợp bệnh lý khác. Thang điểm này khá khách quan, đáng tin cậy, có giá trị tiên lượng và rất thuận tiện trong việc theo dõi diễn tiến của người bệnh.
Số điểm của một bệnh nhân cụ thể được ghi một cách ngắn gọn là điểm Glasgow (tiếng Anh: Glasgow Coma Score, viết tắt GCS).
Thang điểm này được giới thiệu lần đầu vào năm 1974 bởi hai giáo sư khoa thần kinh tại trường Đại học Glasgow là Graham Teasdale và Bryan J. Jennett. Về sau, hai ông cùng viết cuốn Xử trí các chấn thương đầu (Management of Head Injuries) (NXB FA Davis, 1981 ISBN 0803650191), là một tác phẩm nổi tiếng trong giới chuyên môn.
Thang điểm hôn mê Glasgow trong nhi khoa

Thang điểm Glasgow (cho người lớn) nhiều khi không thích hợp để áp dụng cho trẻ em, nhất là ở các bé dưới 36 tháng tuổi (lứa tuổi mà hầu hết trẻ em đều nói chưa rành). Do đó, người ta đã thiết lập thang điểm hôn mê Glasgow trong nhi khoa (tiếng Anh: Pediatric Glasgow Coma Scale, viết tắt PGCS).
Thang điểm này cũng gồm 3 loại đáp ứng: mắt (E), lời nói (V) và đáp ứng thần kinh vận động (M). Điểm thấp nhất là 3 (hôn mê sâu hoặc chết), và cao nhất là 15 (trẻ hoàn toàn tỉnh và đang thức).
Tiếp cận bệnh nhi
Nguyên tắc luôn là bắt đầu bằng việc quan sát, hỏi han, lay gọi bệnh nhi để xem đáp ứng của trẻ. Nếu không có đáp ứng với lời nói mới bắt đầu các biện pháp gây đau.
Ghi nhận điểm cao nhất mà bệnh nhi đạt được trong từng loại đáp ứng.
Đáp ứng bằng mắt tốt nhất (E)
Có 4 mức độ:
4. Mở mắt tự phát.
3. Mở mắt khi nghe gọi. (Cần phân biệt với ngủ, nếu trẻ ngủ và mở mắt khi bị đánh thức thì ghi là 4 điểm, không phải 3).
2. Mở mắt khi bị làm đau. (Mô tả ở phần người lớn).
1. Không mở mắt.
Đáp ứng bằng lời nói tốt nhất (V)
Có 5 mức độ:
5. Trẻ giao tiếp bình thường (bằng lời nói nếu đã biết nói).
4. Trẻ bứt rứt, khó chịu và khóc thường xuyên.
3. Trẻ kêu la khi bị làm đau.
2. Trẻ rên rỉ khi bị làm đau, nhưng không thành những từ ngữ hẳn hoi.
1. Hoàn toàn im lặng.
Đáp ứng vận động tốt nhất (M)
Có 6 mức độ:
6. Trẻ cử động tự nhiên, có chủ đích.
5. Trẻ co tay hoặc chân bị sờ chạm.
4. Trẻ co tay hoặc chân bị làm đau.
3. Co cứng (kiểu) mất vỏ khi đau. (Mô tả ở phần người lớn).
2. Duỗi cứng (kiểu) mất não khi đau. (Mô tả ở phần người lớn).
1. Không đáp ứng với đau.
Phân tích các điểm ghi nhận
Tổng số điểm cũng như từng điểm chi tiết đều có ý nghĩa quan trọng, do đó, điểm Glasgow của một bệnh nhân thường được ghi theo kiểu của thí dụ sau: “GCS = 10 (E3 V4 M3) lúc 17:25″.
Việc phân tích chi tiết dành cho các nhà chuyên môn, nhưng nhìn chung, mức độ hôn mê được đánh giá là:
nặng, khi GCS ≤ 8,
* trung bình, với GCS từ 9 đến 12,
* nhẹ, khi GCS ≥ 13.
Thang điểm Glasgow (dùng cho bệnh nhân người lớn)

Thang điểm có 3 yếu tố, gồm các đáp ứng bằng mắt, lời nói và vận động. Điểm chi tiết cũng như tổng số điểm của ba loại đáp ứng đều được theo dõi. Tổng điểm GCS thấp nhất là 3 (hôn mê sâu hoặc chết), và cao nhất là 15 (người hoàn toàn tỉnh và đang thức).
Ở Việt Nam, khi dùng thang điểm Glasgow người ta thường giữ nguyên các chữ viết tắt bằng tiếng Anh là E (mắt – eye opening), V (lời nói – best verbal response) và M (vận động – best motor response).
Tiếp cận người bệnh
Nguyên tắc là phải luôn bắt đầu bằng việc quan sát, hỏi han, lay gọi người bệnh để xem đáp ứng của họ. Nếu không có đáp ứng với lời nói mới bắt đầu các biện pháp gây đau.
Ghi nhận điểm cao nhất mà bệnh nhân đạt được trong từng loại đáp ứng.
Đáp ứng bằng mắt tốt nhất (E)
Có 4 mức độ:
4. Mở mắt tự phát.
3. Mở mắt khi nghe gọi. (Cần phân biệt với ngủ, nếu bệnh nhân ngủ và mở mắt khi bị đánh thức thì ghi là 4 điểm, không phải 3).
2. Mở mắt khi bị làm đau. (Ấn vào giường móng, nếu không đáp ứng mới dùng các phép thử khác gây đau nhiều hơn – ấn trên hốc mắt hoặc trước xương ức bằng góc giữa đốt ngón tay thứ nhất và thứ hai).
1. Không mở mắt.
Đáp ứng bằng lời nói tốt nhất (V)
Có 5 mức độ:
5. Trả lời chính xác. (Bệnh nhân trả lời đúng những nội dung đơn giản, quen thuộc như tên, tuổi của bản thân, quê quán, mùa, năm v.v.).
4. Trả lời, nhưng nhầm lẫn. (Bệnh nhân vẫn “nói chuyện” được với người khám nhưng tỏ ra lú lẫn trong các câu trả lời).
3. Phát ngôn vô nghĩa. (Bệnh nhân có thể nói thành câu, nhưng không “nói chuyện” với người khám).
2. Phát âm khó hiểu. (Có thể kêu rên, nhưng không thành những từ ngữ hẳn hoi).
1. Hoàn toàn im lặng.
Đáp ứng vận động tốt nhất (M)
Có 6 mức độ:
6. Thực hiện yêu cầu. (“Tuân lệnh”, làm những việc đơn giản theo yêu cầu của người khám: mở/nhắm mắt, nắm/xòe bàn tay v.v.)
5. Đáp ứng với đau. (Cử động có mục đích gạt bỏ nguồn gây đau (dù đạt được hay không), chẳng hạn co tay lại và vung lên cao hơn xương đòn khi bị làm đau trên hốc mắt).
4. Tránh cái đau. (Rút tay lại khi bị làm đau).
3. Co cứng (kiểu) mất vỏ khi đau. (Phản xạ bất thường: co cứng các chi – tư thế của người bị tổn thương vỏ não).
2. Duỗi cứng (kiểu) mất não khi đau. (Co cơ khiến cho vai xoay trong, cánh tay bị úp sấp xuống – tư thế của người bị tổn thương não).
1. Không đáp ứng với đau.

Theo dõi áp lực sọ não

1. Mở đầu.
Hộp sọ là một cấu trúc cứng có một thể tích hữu hạn và hằng định, trong hộp sọ có tổ chức não, máu và dịch não tủy, các thành phần này có vai trò trong việc tạo nên áp lực nội sọ. Các quá trình bệnh lý gây tăng thể tích các thành phần kể trên đều gây nên tăng áp lực nội sọ (TALNS).
2. Lâm sàng tăng áp lực nội sọ. 
+ Đau đầu: là triệu chứng quan trọng. Tính chất đau như vỡ đầu, thường đau tăng lúc nửa đêm và sáng sớm. Khu trú của đau thường ở vùng trán, mắt. Triệu chứng đau đầu không có giá trị chẩn đoán định khu.
+ Buồn nôn, nôn: thường nôn vào buổi sáng, nôn dễ dàng, nôn vọt và nôn khi đói.
+ Phù nề gai thị thần kinh: hầu hết bệnh nhân TALNS có phù nề gai thị, tuy nhiên phù gai không phải là triệu chứng sớm của TALNS. Có thể nói rằng phù gai là triệu chứng đến sau và thuyên giảm sau. Nếu TALNS mức độ nặng nề và tồn tại lâu có thể gây giảm hoặc mất thị lực và teo gai thị thứ phát.
+ Các triệu chứng khác: 
- Các triệu chứng về mắt: rối loạn vận nhãn do tổn thương các dây thần kinh sọ não III, IV,VI một hoặc hai bên. Thường gặp tổn thương dây VI, sau đó là dây III, ít khi gặp tổn thương dây IV đơn độc, lồi mắt hay gặp ở trẻ em, rối loạn thị lực, thị trường.
Khối choán chỗ trên lều
- Tổn thương các dây thần kinh sọ não khác: dây I, V, VII, VIII và dây XI có thể bị tổn thương kèm theo.
- Rối loạn ý thức: ý thức có thể rối loạn ở các mức độ khác nhau. Có thể bệnh nhân ngủ nhiều nhưng khi gọi bệnh nhân luôn tỉnh và đáp ứng đúng, tính tình thay đổi. TALNS nặng nề sẽ gây hôn mê.
- Rối loạn các chức năng sống: 
Lều tiểu não
. Rối loạn nhịp thở: với bệnh nhân còn tỉnh táo thì thường ngáp nhiều. Các trường hợp nặng nề có thể thấy các kiểu rối loạn nhịp thở do tổn thương trung khu hô hấp ở cầu – hành não. Thường gặp là các kiểu thở sau: thở máy hay thở Kussmaul), thở Cheyne – Stockes, thở Biot, thở thất điều (ataxic) và thở ngáp (gasping). Ngoài ra người ta còn thấy khoảng 30% số bệnh nhân TALNS có phù phổi do thần kinh.
+ Rối loạn tim mạch do tổn thương ngoại vi, thân não, đồi thị, vỏ não. Tăng huyết áp trong giai đoạn đầu của TALNS, nếu TALNS lâu ngày thì huyết áp tối thiểu sẽ giảm trước sau đó là giảm huyết áp tối đa, mạch chậm.
- Rối loạn thân nhiệt: khi u nằm gần đồi thị hoặc làm thay đổi não thất IV sẽ gây dao động thân nhiệt, đó là những biểu hiện TALNS đã ở giai đoạn mất bù, xu hướng diễn biến xấu với tiên lựơng gần là trụy hô hấp và trụy tim mạch. Thân nhiệt cao tăng nhanh hoặc hạ thân nhiệt xuống dưới 340 là những dấu hiệu nguy hiểm cho biết tổn thương rất ít có khả năng phục hồi.
- Rối loạn chức năng tiêu hoá: nôn, tắc ruột, bí, đau bụng.
- Rối loạn chức năng bàng quang: đây có thể là triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú khi có u vùng cạnh trung tâm, u vùng trán. Tuy nhiên TALNS cũng có thể gây rối loạn cơ vòng.
3. Biến chứng cuả tăng áp lực nội sọ. 
+ Biến chứng chuyển dịch tổ chức não biểu hiện là thoát vị não (cerebral herniations), thường gặp các dạng thoát vị não sau:
- Thoát vị hồi lưỡi (cingulate herniation) vào bể liên bán cầu.
- Thoát vị qua lều hay thoát vị trung tâm (tentorial or central herniation).
- Thoát vị hồi móc qua góc trên của lều tiểu não (uncal herniation).
- Thoát vị hạnh nhân tiểu não vào lỗ chẩm (cerebellar tonsillar herniation).
- Biến chứng xoắn vặn thân não gây tổn thương thứ phát và những triệu chứng nặng nề trên lâm sàng, đe dọa tử vong.
4. Nguyên nhân của tăng áp lực nội sọ. 
+ Tổn thương lan toả trong khoang sọ – ống sống: ổ máu tụ, tân sản, áp xe, và phù não. Hiếm khi thấy TALNS do tăng sinh DNT.
+ Trạng thái động kinh hoặc thiếu oxy kéo dài (gây phù não).
Não thất bên
+ Bệnh não do chuyển hoá: bệnh gan, bệnh thận, hội chứng Rey hội chứng giả u não (pseudotumor cerebri hay tăng áp lực nội sọ lành tính), các bệnh nội tiết.
+ Nhiễm khuẩn trung ương thần kinh: viêm màng não, viêm não có thể gây phù não nặng nề và làm tăng áp lực nội sọ.
+ Các tổn thương gây tắc đường DNT từ não thất tới khoang dưới nhện .
5. Điều trị tăng áp lực nội sọ. 
Biện pháp tức thì: bất động bệnh nhân.
+ Điều trị nguyên nhân: 
Nhằm mục đích loại bỏ nguyên nhân gây TALNS như phẫu thuật cắt bỏ u, điều trị u bằng quang tuyến, dùng các thuốc phá hủy tổ chức tân sản, phẫu thuật lấy ổ máu tụ…
+ Các biện pháp tạm thời nhằm điều trị triệu chứng: 
- Tác động vào hệ dịch não tủy:
Làm giảm áp lực nội sọ thông qua con đường giảm thể tích dịch não tủy trong các não thất như đặt dẫn lưu não thất – bể lớn hoặc não thất – ổ bụng.
- Tác động vào tuần hoàn máu trong nội sọ
- Tác động vào tổ chức não làm giảm thể tích thông qua con đường chống phù não.
Điều trị chống phù não là việc làm có tính nguyên tắc và có vai trò rất quan trọng trong điều trị TALNS. Nói chung điều trị TALNS tùy từng nguyên nhân, mức độ và mục đích mà sử dụng các biện pháp thích hợp.
. Urea: được dùng với nồng độ 25 – 30%, thuốc có tác dụng nhanh và hay được dùng trong khi mổ. Liều lượng thường dùng 1g/kg cân nặng/24giờ. Nhược điểm của thuốc là tác dụng phản hồi (rebound effect) mạnh (khi thuốc hết tác dụng thì phù não tái lập lại nặng nề hơn)
.
 Mannitol 25%: có trọng lượng phân tử cao, thuốc ít tham gia chuyển hóa và được đào thải nhanh qua thận, ít có tác dụng phản hồi. Khoảng 1/3 số bệnh nhân được sử dụng thấy có tác dụng rõ từ giờ thứ nhất đến giờ thứ tư sau khi truyền. Các lần truyền sau thì hiệu quả điều trị có khác nhau. Liều dùng tùy theo mục đích sử dụng nhưng thường dùng 0,5g/kg cân nặng, có thể truyền 2 – 3 lần trong ngày nếu cần thiết. Lưu ý khi sử dụng, thận của bệnh nhân phải bình thường. Tác dụng phụ thường gặp là lợm giọng, buồn nôn, nôn và chóng mặt.
. Glycerol: thuốc được đào thải một phần qua thận, một phần tham gia chuyển hoá. Glycerol thường được sử dụng bằng đường uống hoặc tiêm bắp. Thuốc có tác dụng thẩm thấu rõ nhưng chậm và không mạnh. Liều thường dùng 4-5g/kg cân nặng/24giờ, cứ 4-5 giờ tiêm một lần. Lưu ý: khi sử dụng thuốc chức năng thận của bệnh nhân phải bình thường.Tác dụng phụ thường gặp là làm mềm cơ.
.
 Steroid: tác dụng chống phù não trong u não cơ chế còn chưa được rõ, có thể thuốc làm giảm tiết dịch não tủy.
. Lợi tiểu: furosemid liều dùng 20mg/24giờ và thường được dùng phối hợp với mannitol.
. Các thuốc khác: có thể thay mannitol bằng sorbitol 40%, cũng có thể dùng phối hợp dextrans 10% với mannitol. Tác dụng chống phù não của aldosteronantagonist (spirolacton) còn đang được bàn cãi. Ngoài ra trong điều trị chống phù não có thể cho thêm THAM để chống toan máu

Bệnh giãn tĩnh mạch nông

Khi thấy xuất hiện ở chân các sợi dây búi tĩnh mạch giãn một cách bất thường (có người quen gọi là sợi gân xanh nổi dưới da, đặc biệt rõ ở người da trắng và mỏng) đó là chứng bệnh giãn tĩnh mạch nông. Tuy nhiên cũng dễ nhầm lẫn với các hiện tượng khác.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì bệnh giãn tĩnh mạch nông có 3 điểm chính: Tĩnh mạch giãn là tĩng mạch nông. Tĩnh mạch giãn chãy ngoằn ngoèo (quanh co).Tĩnh mạch đó có hiện tượng máu lưu thông theo chiều trái ngược. Với định nghĩa này sẽ loại trừ bệnh giãm tĩnh mạch sâu, bệnh phồng tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch trong thể thao (tĩnh mạch chạy thẳng). Giãn tĩnh nông có thể là giai đoạn đầu của suy tĩnh mạch mạn tính hay các biến chứng loét ở chân.
Bệnh suy tĩnh mạch mạn tính thường gặp có chừng 20 – 40% dân số mắc bệnh số bệnh nhân nữ cao hơn số nam gấp 4 lần, tại TPHCM cho thấy bệnh này cũng khá thường gặp (43,97% gặp giãn tĩnh mạch nông ở người cao tuổi, trong đó có 16,91% bị suy tĩnh mạch mạn tính). Bệnh nhân chỉ nhập viện khi đã có những biến chứng hoặc ở giai đoạn muộn như rối loạn dinh dưỡng, loét chi.
NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM GIÃN TĨNH MẠCH
- Nữ giới gặp nhiều hơn: Có thể do một số yếu tố như hormon, mang thai, đứng nhiều, khối cơ ở chi nhỏ, sử dụnh giày dép không thích hợp…
- Mang thai nhiều lần và gần nhau, làm tĩnh mạch yếu dần.
- Nghề nghiệp liên quan đến bệnh: Phải đứng lâu, tiếp xúc nhiệt độ cao ở vùng chân như tài xế, đầu bếp, thợ cắt tóc, thợ đệt, các phẫu thuật viên… Kể cả thói quen ít hoạt động qua lại…
- Mập do khối ruột gấy áp lực ép vào các tĩnh mạch chậu là tĩnh mạch có rất ít van, gây ứ đọng tĩnh mạch chi dưới.
- Sau phẫu thuật hay gãy xương phải bó bột có thể gây biến chứng do nằm bất động kéo dài như huyết khối và viêm tĩnh mạch huyết khối.
- Ắn uống ít chất xơ gây táo bón, khi rặng làm tăng áp suất trong ổ bụng.
XÁC ĐỊNH BỆNH GIÃN TĨNH MẠCH NÔNG VÀ SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH.
* Phình giãn tĩnh mạch ở chân biểu hiện điển hình khi dưới da xuất hiện các sợi hay búi tĩnh mạch giãn, quanh co, chướng căng, nhất là ở tư thế đứng, tình trạng này có khi kéo dài khá lâu, một số trường hợp chỉ được phát hiện một cách vô tình như đi tắm biển.
………….
* Suy tĩnh mạch mạn tính: Cảm giác khó chịu, nặng chân, đau, vọp bẻ… các triệu chứng này xuất hiện rõ khi ở tư thế dùng máy Doppler, chụp X-quang tĩnh mạch để có chẩn đoán chính xác.
* Mức độ suy tĩnh mạch mạn: Dựa vào các ctriệu chứng lâm sàng, người ta chia suy tĩnh mạch mạn tính thành nhiều mức độ:
- Độ 0: Chỉ đơn thuần có triệu chứng cơ năng như đã mô tả
- Độ 1: Giãn các tĩnh mạch xa, tĩnh mạch lưới, sưng vùng mắt cá chân.
- Độ 2: Xuất hiện giãn tĩnh mạch rõ, điển hình.
- Độ 3: Có kèm theo phù nhưng không có những biến đổi của da.
- Độ 4: Đã có biến đổi của da như sạm da, chàm, xơ mỡ bì.
- Độ 6: Biến đổi da và có loét tiến triển.
Như vậy dựa trên cách chia độ người ta có thể đánh giá mức độ của bệnh và đưa ra hướng điều trị phù hợp.
PHÒNG NGỪA BỆNH
Phương pháp phòng bệnh nhằm chặn dòng máu trào ngược trong tĩnh mạch giãn hoặc làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn, các biện pháp bao gồm:
- Giữ tư thế thuận lợi cho lưu thông trong tĩnh mạch như khi naằm nghỉ kê chân cao.
- Tập cơ mạnh để tạo sức ép cho máu tĩnh mạch đổ về tim, đơn giản như đi bộ, chơi thể thao.
- Tránh đứng lâu hay ngồi lâu quá dễ gâyứ trệ tuần hoàn.
- Mang băng thun hay vớ thun với mức độ ép khác nhau tạo tác dụng hút máu trở về.
- Tránh béo phì, đây là một yếu tố nguy cơ cho bệnh xuất hiện và tiến triển nhanh.
- Vận động tập hít thở sâu tạo áp lực hút để máu tĩnh mạch trở về tốt hơn.
- Ngoài ra còn một số biện pháp luôn luôn tỏ ra quan trọng và cần thiết, mỗi người cần có một cách áp dụng riêng sao cho phù hợp và hạn chế sự tiến triển của bệnh.
SỬ DỤNG BẮNG THUN ÉP
Người ta dùng băng hay vớ có chất liệu co giãn và có thể ép vào các tĩnh mạch giãn. Hữu hiệu trong mọi trường hợp có giãn tĩnh mạch nông và được sử dụng chủ yếu vào ban ngày nhất là khi phải đứng lâu, có thể dùng băng, vớ ngắn, vớ dài. Băng thun ép có tác dụng:
- Phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ tĩnh mạch nông và sâu, thông qua hệ tĩnh mạch nối.
- Giảm đường kính lòng mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ và khi gắng sức.
Tuy nhiên khi áp dụng gặp không ít khó khăn như thông quen mang vớ thường xuyên, khí hậu nóng gây khó chịu.
ĐIỀU TRỊ BẲNG THUỐC
Những thuốc có tác dụng phục hồi sự luân chuyển máu trong vi quản, tăng trương lực tĩnh mạch được dùng trong điều trị các bệnh tĩnh mạch, chủ yếu là đều trị các triệu chứng nặng chân, đau, kiến bò, bỏng rát, phù nề, cảm giác nặng chân
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CHÍCH XƠ
Được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trong việc điều trị bệnh giãn tĩnh mạch.
 Mục tiêu của phương pháp là loại bỏ sinh sạn trào ngược bệnh lý. Điều trị là tạo sự sang thương trong lớp nội mạc của thành mạch máu, dẫn đến xơ hóa các tĩnh mạch bị giãn.
PHẪU THUẬT
Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng và được sử dụnh tương đối rộng rãi.
 Có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau trong đó có 2 phương pháp chính.
- Phẫu thuật rút bỏ tĩnh mạch giãn.
- Rút bỏ những đoạn tĩnh mạch giãn cũa hệ lưới, của mạch nhánh. Tại Bệnh viện Bình dân trong 6 năm (1992 – 1997) có 70 trường hợp giãn tĩnh mạch nông có suy tĩnh mạch mạn được điều trị, trong đó 51 trường hợp được phẫu thuật (72,85%) và 19 trường hợp điều trị nội khoa (26,7%).
Các trường hợp phẫu thuật: là các trường hợp giãn tĩnh mạch nông có suy tĩnh mạch mạn thời gian mắc bệnh kéo dài, ở trên độ III. Sau mổ bệnh nhân được dùng băng ép trong vòng một tháng, kết hợp dùng thuốc.
Các trường hợp điều trị nội khoa: là các trường hợp giãn tĩnh mạch nhẹ, hầu hết cho băng thun ép và dùng thuốc sẽ có kết quả tốt.
Kết luận: Bệnh giãn tĩnh mạch nông khá thường gặp nhưng ít được chú ý. Giải quyết sớm nhóm bệnh này quan trọng nhất là phòng ngừa bệnh tiến triển. Cần điều trị các rối loạn tĩnh mạch ở tất cả các giai đoạn của bệnh và khôngg nên chần chừ để tránh các biến chứng như viêm loét chi rất khó điều trị.
…………………………………….
trích dẫn Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/2008)
1. Giãn tĩnh mạch chân là gì?
Là tình trạng tĩnh mạch nông ở chân bị giãn có thể khiến cho máu chạy theo những đường ngược nhau.
Bệnh xuất hiện khi thành tĩnh mạch bị suy yếu và các van một chiều bên trong lòng tĩnh mạch bị tổn thương.
2. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao:
Trên thế giới tỷ lệ nam mắc bệnh này là 1%, trong khi đó ở nữ là 4,5%. Tần suất mắc bệnh ở tuổi lao động là 35%, ở tuổi nghỉ hưu là 50%.
Ở Việt Namtheo một nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh gấp 3 lần nam giới.
Những phụ nữ làm việc văn phòng là những người dễ mắc bệnh này hơn cả. Vì họ thường xuyên phải đứng hay ngồi một chỗ quá lâu. Cùng với đó là việc đi giày cao gót và tăng trọng lượng cơ thể càng làm nguy cơ mắc bệnh tăng lên.
Nguy cơ mắc bệnh lớn nữa thuộc về phụ nữ mang thai, tỷ lệ phụ nữ mang thai bị phù chân là 50%, còn tỷ lệ bị giãn tĩnh mạch chân là 20 – 30%.
3.Triệu chứng:
Những triệu chứng bệnh biểu hiện rõ vào mùa hè, khi phải đứng lâu, người bệnh sẽ thấy chân nằng nặng, cảm giác như kiến bò ở chân. Đó là hậu quả của việc ứ máu trong tĩnh mạch.
Khi bệnh nặng hơn, bạn sẽ thấy da chân lộ ra những sợi tĩnh mạch màu xanh hoặc tím, thậm chí là những búi cuộn tĩnh mạch. Những cuộn tĩnh mạch này sẽ phồng lên khi bạn đứng hay di chuyển và xẹp xuống khi bạn nằm.
4. Nguyên nhân:
- Di truyền có vai trò lớn trong những nguyên nhân mắc giãn tĩnh mạch chân. Theo thống kê có 80% bệnh nhân giãn tĩnh mạch chân mãn tính có cha hoặc mẹ mắc bệnh.
- Giới tính cũng cho thấy nguy cơ bệnh cao hơn. Thường nữ mắc bệnh nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.
- Tăng trọng quá mức cũng là một nguyên nhân chủ yếu do tác động lên đôi chân khiến máu bị dồn về phía chân và trào ngược do gia tăng áp lực từ ổ bụng.
- Thuốc ngừa thai cũng là một yếu tố nguy cơ.
- Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa, các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương v.v…
- Những người ăn theo chế độ nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.
5. Phòng tránh bệnh như thế nào?
-Không đứng hay ngồi một chỗ quá lâu.
- Không để trọng lượng cơ thể tăng nhanh trong một thời gian ngắn.
- Khi nghỉ ngơi, nên để chân cao hơn ngực, gác chân cao khi đi ngủ.
Ăn nhiều rau, củ, quả và uống nhiều nước để chống táo bón.
- Tăng cường các hoạt động thể dục thể thao, tốt nhất là đi bộ mỗi ngày 15 phút.
- Tăng cường vận động hô hấp: Hít thở sâu và đúng.
- Xoa bóp và ngâm chân trong nước ấm.
- Tránh đi giày cao gót.
Khi phát hiện ra các triệu chứng mắc bệnh cần phải đến bệnh viện ngay. Ở Việt Nam, 70% các trường hợp mắc bệnh không biết mình có bệnh, vì vậy chỉ khi bệnh đã có những biến chứng mới đi điều trị.
6. Biến chứng của giãn tĩnh mạch:
- Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.
- Nặng hơn bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.
- Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.
- Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.
7. Các phương pháp chữa trị hiện nay
- Dùng băng ép và tất ép
Mục đích là để tạo áp lực lớn ở phía dưới, áp lực nhỏ ở phía trên và giảm đường kính lòng mạch, giúp máu tĩnh mạch lưu thông về phía trên dễ dàng hơn. Hai dụng cụ này được sử dụng để dự phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch mạn tính, hỗ trợ cho các biện pháp điều trị nội khoa và phòng ngừa tái phát.
- Dùng thuốc
Dùng thuốc trợ tĩnh mạch và chống đông máu theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.
- Điều trị bằng thủ thuật và ngoại khoa:
+) Chích xơ: 
Tĩnh mạch bao gồm ba hệ thống: nông, sâu và xuyên.
 Chích xơ chỉ dùng trong trường hợp tổn thương hệ thống tĩnh mạch xuyên. Bác sĩ sẽ tiêm thuốc gây xơ hóa toàn bộ tĩnh mạch. Bệnh nhân được chích xơ nhiều lần cho đến khi không còn giãn tĩnh mạch nữa.
+) Mổ cắt bỏ tĩnh mạch bị giãn.:
Phẫu thuật kéo dài khoảng 5-10 phút, được áp dụng cho trường hợp tổn thương tĩnh mạch nông. Bác sĩ rạch ở mắt cá trong và nếp bẹn rồi luồn một dụng cụ có tên Stripper từ dưới mắt cá trong đi lên trên nếp bẹn để lôi toàn bộ tĩnh mạch bị giãn ra..
Sau phẫu thuật, bệnh nhân được băng ép toàn bộ chi và nằm bất động trên giường ba ngày.

Ung thư dai dày

Dạ dày được giới hạn ở phiá trên bởi vùng nối thực quản-dạ dày (tương ứng với cơ thắt dưới thực quản) và ở phiá dưới bởi môn vị (tương ứng với cơ thắt môn vị). Về mặt giải phẫu, dạ dày được chia thành các vùng chính sau đây: vùng tâm vị, vùng thân vị-phình vị và vùng hang vị

1-Đại cương

Dạ dày được cung cấp máu chủ yếu bởi động mạch thân tạng, thông qua bốn nhánh động mạch chính: động mạch vị trái, động mạch vị phải, động mạch vị mạc nối trái và động mạch vị mạc nối phải. Phần tâm vị và phình vị của dạ dày có thể được cấp máu bởi các nhánh nhỏ của động mạch dưới hoành. Tĩnh mạch vị trái và phải đổ trực tiếp vào tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch vị mạc nối trái đổ vào tĩnh mạch lách, tĩnh mạch vị mạc nối phải đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
Dạ dày có một hệ thống dẫn lưu bạch mạch rất phong phú. Bạch dịch ở vùng ¼ trên phía bờ cong nhỏ dạ dày đổ về nhóm hạch trên dạ dày (bao gồm hạch vị trái và hạch cạnh tâm vị). Bạch dịch ở vùng ¼ trên phía bờ cong lớn dạ dày đổ về nhóm hạch tụy-lách. Bạch dịch ở vùng ¼ dưới phía bờ cong nhỏ dạ dày đổ về nhóm hạch trên môn vị. Bạch dịch ở vùng ¼ dưới phía bờ cong lớn dạ dày đổ về nhóm hạch dưới môn vị. Bốn nhóm hạch chính nói trên đổ về nhóm hạch thân tạng, sau đó tập trung vào ống ngực. Mặc dù phân định rạch ròi bốn vùng dẫn lưu bạch mạch, khối u ở một vị trí bất kỳ trên dạ dày có thể di căn đến bất kỳ nhóm hạch nào trong lưu vực dạ dày.
Ung thư dạ dày:
o Là bệnh lý ác tính phổ biến (đứng hàng thứ hai tại Mỹ).
o Nhiều quốc gia châu Á (Triều tiên, Trung quốc, Nhật) có tần suất mắc bệnh rất cao.
o BN có độ tuổi 40-70. Tần suất mắc bệnh cao nhất ở 65 tuổi. Nam có tần suất mắc bệnh hơi cao hơn nữ.
o Ngay cả ở các nước phát triển, đa số BN nhập viện khi đã ở giai đoạn muộn (80% BN ở giai đoạn III,IV).
Phân loại ung thư dạ dày:
o Ung thư tuyến dạ dày (adenocarcinomas) chiếm 90-95%
o Lymphoma dạ dày phổ biến thứ nhì, sau adenocarcinomas (5%)
o Các loại ung thư dạ dày khác (ung thư tế bào vảy, adenocanthomas, u carcinoid, u mô đệm…) rất hiếm khi xuất hiện
Bài này chủ yếu đề cập đến ung thư tuyến dạ dày.
Các yếu tố nguy cơ của ung thư tuyến dạ dày:
o Nhiễm Helicobacter Pylori
o Lớn tuổi
o Nam giới
o Thuốc lá
o Chế độ ăn: ít rau và trái cây tươi; ăn nhiều thực phẩm bảo quản lâu ngày (muối, xông khói…)
o Polyp tuyến dạ dày
o Dị sản kiểu ruột non của dạ dày
o Viêm dạ dày mãn tính thể teo
o Viêm dạ dày phì đại (bệnh Ménétrier)
o Thiếu máu ác tính
o Gia đình có người bị ung thư dạ dày
o Bệnh đa polyp dạng tuyến có tính cách gia đình
Sự phân bố của ung thư tuyến dạ dày: 40% khối u ở 1/3 dưới dạ dày, 40% ở 1/3 giữa, 15% ở 1/3 trên, 5% lan rộng trên 2/3 dạ dày.
Giải phẫu bệnh:
o Về mặt đại thể, phân loại ung thư tuyến dạ dày theo Borrmann (1926) hiện tại vẫn còn giá trị, đặc biệt đối với các nhà nội soi.Theo Borrmann, ung thư tuyến dạ dày được phân thành 5 kiểu:
§ Kiểu 1: dạng chồi xùi
§ Kiểu 2: dạng loét, bờ gồ cao
§ Kiểu 3: dạng loét, bờ phẳng
§ Kiểu 4: dạng thâm nhiễm. Ung thư dạ dày thể linitis plastica được xếp vào kiểu này
§ Kiểu 5: ung thư dạ dày có đặc điểm khác bốn kiểu trên
o Về vi thể, adenocarcinomas có các loại tế bào sau (tăng dần theo mức độ ác tính): tế bào ống, tế bào nhú, tế bào nhầy, tế bào nhẫn, tế bào không biệt hóa.
Diễn tiến của ung thư tuyến dạ dày:
o Di căn: theo đường máu hay bạch mạch
o Xâm lấn:
§ Xâm lấn trên đại thể: giới hạn khối u được quan sát bằng mắt thường nhỏ hơn giới hạn thật sự của khối u
§ Xâm lấn vi thể: có sự hiện diện của tế bào ung thư trong hệ bạch mạch trên thành dạ dày ở khoảng cách khá xa tính từ giới hạn ngoài của khối u.
§ Xâm lấn vào các tạng lân cận: mạc nối, đại tràng ngang và mạc treo đại tràng ngang, tụy, tá tràng, cơ hoành là các tạng thường bị xâm lấn.
§ Gieo rắc trong xoang phúc mạc: một khi đã xâm lấn ra khỏi thanh mạc dạ dày, các tế bào ung thư thường gieo rắc tự do trong xoang bụng.
Biến chứng của ung thư dạ dày:
o Thủng khối u
o Gây nghẹt (tâm vị hay môn vị)
o Chảy máu
Tiên lượng của ung thư tuyến dạ dày phụ thuộc vào (theo AJCC: American Joint Commission on Cancer):
o Mức độ xâm lấn của khối u (T)
o Di căn hạch (N)
o Di căn xa (M)

2-Chẩn đoán

2.1-Chẩn đoán lâm sàng:
Triệu chứng cơ năng trong giai đoạn đầu rất mơ hồ, thường gặp nhất là triệu chứng sụt cân (62%) và đau bụng âm ỉ (52%).
Các triệu chứng khác:
o Nôn ói (32%)
o Chán ăn (32%)
o Khó nuốt (26%)
o Tiêu phân đen (20%)
o Suy mòn (17%)
o Đau giống như loét (17%)
Một tỉ lệ nhỏ BN nhập viện với các biến chứng (thủng, nghẹt môn vị, nghẹt tâm vị hay xuất huyết tiêu hoá).
Không có triệu chứng thực thể trong giai đoạn sớm của bệnh. Trong giai đoạn muộn, BN có thể có:
o Thiếu máu
o Khối u thượng vị
o Hạch thượng đòn trái (hạch Virchow)
o Hạch quanh rốn (hạch Sister Mary Joseph)
o Nhiễm cứng cùng đồ sau (mảng Blummer)
o U buồng trứng (u Brukenberg)
o Gan to
o Báng bụng
o Vàng da
2.3-Chẩn đoán phân biệt:
Có nhiều bệnh lý cần được chẩn đoán phân biệt với ung thư dạ dày (bảng 1), tùy vào triệu chứng cơ năng và thực thể khi thăm khám BN.
Triệu chứng chính
Chẩn đoán phân biệt
Chán ăn, sụt cân
Ung thư gan
Ung thư tụy
Thiếu máu, tiêu phân đen
Các u lành tính của dạ dày (polyp tuyến, polyp tăng sản, u cơ trơn)
Loét dạ dày chảy máu
Đau bụng
Viêm dạ dày
Mô tuỵ lạc chỗ ở dạ dày
Loét dạ dày-tá tràng
Viêm tuỵ
Cơn đau quặn mật
Đau bụng dữ dội
Thủng ổ loét dạ dày
Viêm tuỵ cấp
Nhồi máu mạc treo
Nôn ói, nuốt nghẹn
Nghẹt môn vị do loét
Ung thư thực quản
Khối u bụng
Ung thư gan
Ung thư tuỵ
Ung thư đại tràng
Carcinomatosis
Di căn xoang phúc mạc từ các bệnh lý ác tính trong và ngoài xoang bụng
Bảng 1- Chẩn đoán phân biệt ung thư dạ dày
2.3-Chẩn đoán cận lâm sàng:
Xét nghiệm: thiếu máu (42%), máu ẩn trong phân (40%), giảm protein huyết tương (26%), bất thường chức năng gan (26%).
CEA, AFP, CA 19.9: tăng trong giai đoạn muộn, do đó không có giá trị chẩn đoán sớm.
X-quang dạ dày với Barium: là phương tiện chẩn đoán hình ảnh cổ điển (hình 1). X-quang dạ dày với Barium không phân biệt ung thư dạ dày dạng loét với loét dạ dày lành tính. Mặc dù giá trị chẩn đoán ung thư dạ dày của X-quang dạ dày có thể lên đến 90%, X-quang dạ dày chỉ nên được chỉ định cho những BN có triệu chứng nghi ngờ nhưng không có các yếu tố nguy cơ.

Hình 1- Hình ảnh ung thư dạ dày vùng hang vị (A) và hang-thân vị (B) trên X-quang dạ dày
Nội soi dạ dày ống soi mềm có giá trị chẩn đoán cao nhất (độ chính xác 95%). Nếu sinh thiết nhiều vị trí và sinh thiết nhiều lần trên cùng một vị trí, độ chính xác có thể đạt 98%.
Siêu âm qua nội soi là phương tiện đánh giá chính xác mức độ xâm lấn của khối u trên thành dạ dày và di căn hạch lân cận. Siêu âm qua nội soi không có giá trị chẩn đoán di căn hạch xa hay di căn gan
CT (hoặc MRI): là phương tiện được chọn lựa để đánh giá giai đoạn ung thư dạ dày. Tuy nhiên, CT không có khả năng phát hiện các hạch di căn, các khối di căn gan hay xoang phúc mạc có kích thước dưới 5 mm. Độ chính xác trong việc đánh giá giai đoạn ung thư của CT có thể thay đổi từ 25-86%.
Về mặt chẩn đoán, trên CT, với thuốc cản quang tĩnh mạch và trong lòng dạ dày, adenocarcinoma dạ dày có các hình ảnh sau (hình 2):
o Một chỗ dày lên khu trú ở thành dạ dày, có hay không kèm theo loét trên bề mặt.
o Một khối xùi vào lòng dạ dày
o Thành dạ dày dày lan toả, lòng dạ dày bị hẹp lại.

2.4-Đánh giá giai đoạn (theo AJCC):
Nội soi ổ bụng dành cho các di căn gan hay phúc mạc mà CT không phát hiện được. Nội soi ổ bụng kết hợp với siêu âm ngay trước khi phẫu thuật và rửa xoang bụng tìm tế bào ung thư là phương tiện chính xác nhất giúp phẫu thuật viên chọn lựa BN cho phẫu thuật triệt để.
Khối u:
o Tis: carcinoma in situ.
o T1: carcinoma xâm lấn tới lớp cơ niêm hay dưới niêm mạc.
o T2: carcinoma xâm lấn tới lớp cơ (a) hay dưới thanh mạc (b)
o T3: carcinoma xâm lấn qua lớp thanh mạc nhưng chưa xâm lấn vào các tạng lân cận
o T4: carcinoma xâm lấn vào các tạng lân cận (gan trái, tuỵ, cơ hoành, đại tràng ngang, thành bụng, phúc mạc, ruột non, lách, tuyến thượng thận, thận).
Hạch:
o N0: chưa di căn hạch vùng
o N1: di căn 1-6 hạch vùng
o N2: di căn 7-15 hạch vùng
o N3: di căn hơn 15 hạch vùng
Di căn xa:
o M0: chưa di căn xa.
o M1: di căn xa
Đánh giá giai đoạn ung thư dạ dày theo AJCC (bảng 2):
Giai đoạn
T
N
M
0
is
0
0
IA
1
0
0
IB
1
1
0
2a/b
0
0
II
1
2
0
2a/b
1
0
3
0
0
IIIA
2a/b
2
0
3
1
0
4
0
0
IIIB
3
2
0
IV
1-3
3
0
4
1-3
0
Bất kỳ
Bất kỳ
1

3-Điều trị

3.1-Các phương pháp điều trị:
3.1.1-Phẫu thuật:
Phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch được xem như là một phương pháp điều trị triệt căn duy nhất.
3.1.1.1-Cắt dạ dày:
Có ba phương pháp cắt dạ dày chính:
o Cắt bán phần dưới dạ dày
o Cắt bán phần trên dạ dày
o Cắt toàn bộ dạ dày
Việc cắt phần dạ dày có khối u phải đảm bảo sao cho bờ cắt không có tế bào ung thưĐể bảo đảm điều này, bờ cắt phải cách giới hạn của khối u 5-6 cm.
3.1.1.2-Nạo hạch:
Vấn đề nạo hạch hiện nay còn nhiều bàn luận. Theo phân loại carcinomas dạ dày của Nhật (JCGC-Jappannese Classification for Gastric Carcinoma), lưu vực hạch của dạ dày được phân làm 16 nhóm (được đánh số từ 1-16). Hạch di căn trong một nhóm bất kỳ có thể là hạch N1 đến N3 hay M tuỳ thuộc vào vị trí tương đối của nhóm hạch đó so với vị trí của khối u (hình 3, bảng 3).
Từ cách phân nhóm hạch di căn nói trên, các phẫu thuật viên Nhật phân chia việc nạo hạch triệt căn trong ung thư dạ dày ra làm ba cấp độ:
o Nạo hạch cấp 1 (D1): lấy đi các hạch N1. Cụ thể: cắt dạ dày kèm nạo hạch D1 là cắt dạ dày kết hợp cắt bỏ toàn bộ mạc nối lớn và mạc nối nhỏ. Nếu bờ cắt dạ dày “sạch” (không có tế bào ung thư), phẫu thuật này còn được gọi là phẫu thuật triệt căn cấp 1 (phẫu thuật R1)

1-Cạnh tâm vị phải
2-Cạnh tâm vị trái
3-Bờ cong nhỏ
4sa-Vị ngắn
4sb-Vị-mạc nối trái
4d-Vị-mạc nối phải
5-Trên môn vị
6-Dưới môn vị
7-ĐM vị trái
8a-Gan chung trước
8p-Gan chung sau
9-ĐM thân tạng
10-Rốn lách
11p-Lách gần
11d-Lách xa
12a-Gan-tá tràng trái
14v-TM mạc treo tràng trên
14a-ĐM mạc treo tràng trên
15-Đại tràng giữa
16a1-Khe ĐM chủ
16a2, b1-Cạnh ĐM chủ, giữa
16b2-Cạnh ĐM chủ, dưới
12b,p-Gan-tá tràng sau
13-Sau tụy
Nhóm hạch
Giai đoạn di căn hạch
1/3 trên
1/3 giữa
1/3 dưới
1
2
3
4sa
4sb
4d
5
6
7
8a
8p
9
10
11p
11d
12a
12b,p
13
14v
14a
15
16a1
16 a2, b1
16b2
1
1
1
1
1
2
3
3
2
2
3
2
2
2
2
3
3
M
M
M
M
M
3
M
1
3
1
3
1
1
1
1
2
2
3
2
3
2
3
2
3
3
3
M
M
M
3
M
2
M
1
M
3
1
1
1
2
2
3
2
M
2
M
2
3
3
2
M
M
M
3
M
Hình 3, bảng 3- Sự phân bố các nhóm hạch và đánh giá giai đoạn di căn hạch trong ung thư dạ dày (theo JCGC)
o Nạo hạch cấp 2 (D2): lấy đi các hạch di căn N1 và N2. Theo định nghĩa tương tự chúng ta có phẫu thuật R2. Nội dung: cắt dạ dày, cắt bỏ toàn bộ mạc nối lớn và mạc nối nhỏ, lột hết lá thanh mạc của hậu cung mạc nối (bao gồm cả lá trước của mạc treo đại tràng ngang), “lột trần” các nhánh động mạch chính của dạ dày (thân tạng, vị trái, gan chung, lách), “lột trần” cuống gan. Nếu có di căn nhóm hạch số 10 và 11, phẫu thuật luôn kèm theo cắt lách và cắt đuôi tuỵ
o Nạo hạch cấp 3 (D3): nạo hạch D2 kết hợp “lột trần” động mạch chủ đoạn sau tuỵ.
Các phẫu thuật viên Nhật cho rằng:
o Phẫu thuật cắt dạ dày càng triệt để, cơ hội sống của BN càng cao. Theo công bố của Komada (1982) tỉ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật R2 là 39% so với 18% của phẫu thuật R1.
o Phẫu thuật được gọi là triệt căn khi hạch được lấy đi trong phẫu thuật ở trên một mức so với đánh giá di căn hạch. Thí dụ, nếu di căn hạch được đánh giá là N1, khi phẫu thuật nhóm hạch N2 sẽ được lấy. Vì thế, R2 (cắt dạ dày kèm nạo hạch D2) được xem là phẫu thuật tiêu chuẩn trong điều trị ung thư dạ dày, ngay cả khi ung thư ở giai đoạn sớm.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các phẫu thuật viên Âu-Mỹ:
o Tiên lượng của ung thư dạ dày phụ thuộc vào số lượng hạch bị di căn hơn là nhóm hạch bị di căn.
o So với phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch giới hạn (D1/R1), phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch mở rộng (D2/R2) không cải thiện tỉ lệ sống còn của BN bị ung thư dạ dày. Ngược lại, tai biến và biến chứng hậu phẫu của phẫu thuật R2 cao hơn nhiều so với phẫu thuật R1.
Hiện nay (9/2006), phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư dạ dày tiêu chuẩn ở Hoa kỳ là cắt dạ dày kèm nạo hạch D1.
3.1.2- Xạ trị và hoá trị:
Xạ trị và hoá trị không có tác dụng điều trị triệt căn. Xạ trị hay hoá trị bổ túc riêng lẻ cũng không có sự cải thiện kết quả đáng kể. Tuy nhiên, nếu hoá-xạ bổ túc, tiên lượng sống còn của BN sẽ có cải thiện.
Phác đồ hoá trị: dựa trên 5-FU (fluorouracil ) và leucovorin.
Tổng liều xạ trị: 45 Gy
3.2-Chỉ định:
3.2.1-Ung thư giai đoạn I,II:
Cắt dạ dày. Có thể chọn một trong các phương pháp phẫu thuật sau:
o Cắt bán phần dưới của dạ dày, nếu khối u không ở tâm vị hay phình vị.
o Cắt bán phần trên dạ dày hay cắt toàn bộ dạ dày, nếu khối u ở dưới tâm vị hay phình vị.
o Cắt thực quản kèm phần trên dạ dày (cắt thực quản không mở ngực, phẫu thuật Ivor-Lewis), nếu khối u ở tâm vị.
o Cắt toàn bộ dạ dày, nếu khối u ăn lan phần lớn dạ dày và cách môn vị (hay tâm vị) dưới 6 cm.
Nạo hạch vùng. Chỉ cắt lách khi lách bị xâm lấn trực tiếp.
Xạ-hoá bổ túc sau mổ nếu có di căn hạch (T1N1) hay có xâm lấn tới lớp cơ (T2N0).
3.2.2-Ung thư giai đoạn III:
Phẫu thuật với chủ ý triệt căn nếu như quá trình thám sát trong lúc phẫu thuật không có di căn hạch lan rộng.
Xạ-hoá bổ túc sau mổ.
3.2.3-Ung thư giai đoạn IV:
Hoá trị thuyên giảm với:
o Fluorouracil
o FUP (fluorouracil, ciplastin)
o FAP (fluorouracil, doxorubicin, ciplastin)
o FAM (fluorouracil, doxorubicin, mitomicin-C)
o ECF (epirubicin, ciplastin, fluorouracil)
Xạ trị: có thể làm thuyên giảm triệu chứng chảy máu, đau hay bế tắc.
Liệu pháp laser, đặt stent xuyên qua khối u, nối vị tràng, mở dạ dày ra da, mở hỗng tràng ra da đối với khối u gây tắc.
Cắt dạ dày thuyên giảm: có thể được chỉ định cho khối u gây tắc hay chảy máu.
3.3-Kết quả và tiên lượng:
Sau phẫu thuật triệt căn, BN có thể có các biến chứng và di chứng sau:
o Chảy máu (miệng nối, xuất huyết nội)
o Viêm tuỵ cấp
o Tổn thương đường mật
o Xì dò (mỏm tá tràng, miệng nối)
o Áp-xe tồn lưu, tụ dịch trong xoang bụng (nếu có nạo hạch mở rộng)
o Suy dinh dưỡng, lao phổi, hội chứng Dumping, hội chứng quai đến, hội chứng trào ngược, thiếu vitamin B12, rỗng xương…
Tử vong phẫu thuật: 1-2%.
Nếu điều trị tạm thời, thời gian sống trung bình 4-18 tháng.
Tỉ lệ sống sau 5 năm: 30-50% nếu bệnh ở giai đoạn II, 10-20% nếu bệnh ở giai đoạn III.
3.4-Tầm soát ung thư:
Chụp dạ dày có cản quang hay nội soi dạ dày ống soi mềm đối với BN lớn hơn 50 tuổi hay có các yếu tố nguy cơ.
4-Phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày

1-Sau khi đã thám sát và đánh giá tổn thương, phẫu thuật cắt dạ dày bắt đầu bằng việc triệt mạch hai bờ cong dạ dày. Phía bờ cong lớn là mạch vị mạc nối phải và trái. Cẩn thận khi việc triệt mạch tiến gần đến rốn lách, vì các thao tác không nhẹ nhàng có thể làm tổn thương lách. Nếu không có chỉ định cắt lách, lách nên được bảo tồn. Phía bờ cong nhỏ, bó mạch vị phải và trái là các bó mạch phải được triệt. Bó mạch vị trái khá lớn, cần phải được khâu buộc cẩn thận.

2-Khi việc triệt mạch tiến gần đến môn vị, động mạch vị mạc nối phải xuất phát từ động mạch tá tuỵ trước phải được phẫu tích và buộc cẩn thận, bởi vì bất kỳ sự chảy máu nào ở vùng này cũng có thể làm che lấp mất các cấu trúc giải phẫu, gây khó khăn cho việc phẫu tích. Sự triệt mạch phải qua khỏi môn vị ít nhất 1 cm.

3-Tá tràng được kẹp cắt ngang và được khâu đóng lại.Việc giải phóng dạ dày tiếp tục lên đến tâm vị từ phía phình vị và phía bờ cong nhỏ. Các dây dính từ mặt sau dạ dày vào mặt trước tuỵ và phúc mạc sau được cắt. Tế nhị nhất là giải phóng phần phình vị ra khỏi vòm hoành, vì thao tác trên vùng này rất sâu. Phẫu tích vùng vô mạch ở góc His (góc giữa phình vị và vùng nối) trước sẽ làm cho việc giải phóng phình vị được dễ dàng hơn. Các mạch máu nhỏ đến nuôi thực quản bụng cũng được triệt).

4-Hỗng tràng, đoạn cách góc Treitz khoảng 30-40 cm, cùng với mạc treo được cắt ngang. Chú ý bảo tồn các mạch mạc treo nuôi hai đầu cắt. Đầu dưới hỗng tràng (B) được đưa lên nối với thực quản. Đầu trên (A) của hỗng tràng (phần gần) được nối vào hỗng tràng (phần xa) theo kiểu tận-bên.

5-Đầu B của hỗng tràng được đóng lại. Thực quản được cắt ngang và nối với hỗng tràng như sơ đồ trên.

Liên hệ : Dương Văn Nam | PhuongNamBlog
Copyright © 2020. Phương Nam Blog
Xem tôt nhất bằng trình duyệt: Chrome hoặc firefox
Được thiết kế trên Blogger