.............

...........

Đa ối

1. Đại cương

Trong quá trình thai nghén, nước ối được tăng lên từ từ cho đến đầu của tháng thứ bảy và từ đó hằng định cho đến khi đủ tháng. Ở thời kỳ thai đủ tháng lượng nước ối bằng 1/6 trọng lượng bủa thai nhi, tức là tử 500- 600 ml, tối đa 1000 ml cho trường hợp thai phát triển bình thường. Lượng nước ối từ 1 lít đến 2 lít gọi là dư ối, lượng nước ối >2 lít gọi là đa ối
- Trước đây việc chẩn đoán đa ối bằng các triệu chứng lâm sàng có phần khó khăn, dễ nhầm với một số trường hợp như: thai to, song thai, có thai kèm theo khối u...
- Ngày nay việc chẩn đoán xác định đa ối dễ dàng hơn nhờ có siêu âm. Người ta thường dùng chỉ số nước ối (A.F.I. ammiotic fluid index) Vượt trên 25cm (đo theo kỹ thuật của Pheland) hoặc từ 10 cái trở lên ở khoang ối lớn nhất.
Tỷ lệ tử vong chu sinh trong đa ối cao hơn nhiều so với thai thường
Tỷ lệ đa ối khoảng 0,2 đến 1,6 % trong tổng số thai nghén.
Hình 6. Đa ối.
2. Nguyên nhân
- Đa ối thường kèm theo dị dạng thai, đặc biệt là dị dạng hệ thống thần kinh trung ương hay ống tiêu hoá. Khoảng một nửa số trường hợp đa ối thể vừa và nặng có kèm theo dị dạng thai nhi. Các dị dạng thai nhi hay gặp trong đa ối là: dị dạng về dạ dày - ruột, phù thai, hệ thần kinh trung ương, lồng ngực, tim mạch và bất thường về nhiễm sắc thể.
- Đa ối thể nhẹ thường gặp vào ba tháng giữa của thai kỳ, tiên lượng tương đối khả quan hơn.
- Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi:
2.1. Về phía mẹ.
Mẹ mắc các bệnh:
- Tim, thận, bệnh béo phì, đái tháo đường trước và trong khi mang thai là nguyên nhân thường gặp.
- Kháng thể kháng Rh và các bệnh tan huyết thứ phát do kháng thể bất thường có thể gây tình trạng thiếu máu thai nhi trầm trọng hoặc phù thai nhi, có liên quan tới tình trạng đa ối
2.2. Về phía thai nhi và phần phụ :
- Dây rau xoắn, vặn, dây rau cuốn cổ, tắc nghẽn dây rau.
- Thai đôi, thai dị dạng: vô sọ, bụng cóc...
- Giang mai bẩm sinh.
- Viêm nội sản mạc.
3. Triệu chứng
Dựa vào sự tiến triển và thời gian xảy ra quá trình bệnh lý mà người ta phân đa ối ra làm hai loại đa ối cấp và đa ối mãn.
3.1. Triệu chứng đa ối mãn tính
Thường xảy ra vào 3 tháng cuối, tiến triển chậm, âm thầm, đôi khi trội thành đợt cấp
- Triệu chứng cơ năng và toàn thân:
Bệnh nhân có cảm giác khó chịu, tức nặng vì bụng to, đi lại mệt nhọc. Cảm giác thai đạp ít có khi phù 2 chân.
- Thực thể.
+ Nhìn bụng to, thành bụng căng, nhiều vết rạn, các tĩnh mạch nổi rõ.
+ Sờ nắn có cảm giác sóng vỗ, dấu hiệu bập bềnh thai nhi rõ, các cực của thai di động dễ.
+ Nghe tim thai nhỏ, xa xăm hoặc không nghe thấy nếu nước ối quá nhiều.
+ Đo chiều cao tử cung và vòng bụng to hơn so với tuổi thai.
+ Thăm âm đạo: đoạn dưới phình to, giãn mỏng, ngôi cao và di động dễ.
+ Cận lâm sàng:
Siêu âm thấy nhiều nước ối, chỉ số ối góc sâu nhất trên 100mm.
Chụp X quang không chuẩn bị thấy thai nhỏ, nhưng ngày nay rất hạn chế việc chẩn đoán đa ối bằng X quang
3.2. Triệu chứng đa ối cấp
Đa ối cấp hiếm gặp, thường xảy ra sớm hơn vào quý II của thời kỳ thai nghén, bệnh xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh trong 2-3 ngày, lượng nước ối có thể tăng tới >10 lít.
- Cơ năng và toàn thân:
+ Đau bụng và đau vùng thắt lưng, đau lan lên ngực và xuống vùng bẹn đùi.
+ Khó thở nét mặt lo âu đau đớn rõ rệt, môi tím tái, mạch nhanh, không đều, huyết áp có thể hạ, nhiệt độ bình thường, nôn mửa, bụng chướng.
- Thực thể:
+ Nhìn bụng căng to.
+ Sờ: tử cung rất căng, không sờ thấy cực của thai, đôi khi cảm giác chạm phải khối thai rồi mất.
+ Đo chiều cao tử cung lớn hơn so với tuổi thai,
+ Không nghe thấy tim thai.
+ Thăm âm đạo đoạn dưới rất căng, cổ tử cung mở, ối căng phồng, không sờ thấy các cực của thai.
- Cận lâm sàng: siêu âm thấy nước ối nhiều.
4. Chẩn đoán
4.1. Chẩn đoán xác định
Đa ối cấp, đa ối mãn dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như đã mô tả.
4.2. Chuẩn đoán phân biệt
- Đa ối mãn luân biệt với
+ Sinh đôi: khám thấy dấu hiệu 4 cực hoặc 3 cực hoặc 2 cựa Cùng tên, nghe thấy 2 ổ tim thai, siêu âm thấy hình ảnh 2 thai.
+ Thai to: khám thấy khối thai chặt trong tử cung, di động khó khăn đầu to, dấu hiệu đầu chờm khớp vệ rõ, nghe thấy 1 ổ tim thai
+ Một thai kèm theo có khối u: khám thấy có khối u ở tử cung hoặc ngoài tử cung. Siêu âm giúp chẩn đoán xác định.
+ Rau bong non: bụng to lên nhanh, đau bụng liên tục, dữ dội. Bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm độc thai nghén nặng, sốc, ra máu âm đạo, máu loãng không đông. Tử cung cứng như gỗ. Không nghe được tim thai. Siêu âm xác định được khối máu tụ sau rau. Đa ối cấp phân biệt với:
+ Chửa trứng: có triệu chứng rong huyết, tử cung mềm và to hơn so với tuổi thai, không sờ thấy các phần của thai nhi. Siêu âm thấy hình ảnh tuyết rơi.
+ Bí tiểu tiện: khám thấy có cầu bàng quang, sau khi thông đái bụng xẹp xuống.
+ Cổ trướng: bụng to bè ngang, rốn lồi, có tuần hoàn bàng hệ, có dấu hiệu sóng vỗ, gõ đục vùng thấp, diện đục có bề lõm quay lên trên. Có thể tận thấy nguyên nhân gây cổ trướng: Xơ gan, ung thư gan...
5. Điều trị
5.1. Tại tuyến y tế cơ sở
Khi phát hiện thấy tử cung to hơn so với tuổi thai thì chuyển bệnh nhân lên tuyến chuyên khoa.
5.2. Tại tuyến chuyên khoa
5.2.1 Đa ối mãn tính
Khi có thai: điều trị nguyên nhân, nghỉ ngơi, chờ đẻ. Có thể chọc hút bớt nước ối qua thành bụng trong đợt cấp. Mỗi lần hút tử 100ml đến 200 ml nước ối, cần cho nước ối ra một cách tử tử tránh làm giảm áp lực buồng ối đột ngột. Sử dụng kháng sinh, thường là sử dụng nhóm Bêta lactamin: Amoxycillin 2g/ ngày.
Khi chuyển dạ: cơn co tử cung thường yếu nên phải chủ động tia ối để cho nước ối chảy ra từ từ, đồng thời hướng cho ngôi lọt, tránh biến chứng sa dây rau, sa chi, ngôi bất thường
Khi sổ thai: đề phòng băng huyết bang phương pháp xử trí tích cực phòng chảy máu giai đoạn 3. Tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin ngay sau khi sổ thai, sau đó kẻo dây rau từ từ liên tục phối hợp với đẩy tử cung lên trên và ra sau bằng một tay kia ở ngoài thành bụng. Sau sổ rau tiêm 5 đến 10 đơn vị oxytocin phòng chảy máu do đờ tử cung thứ phát.
5.2.2. Đa ối cấp tính.
Chọc ối qua cổ tử cung để giảm các triệu chứng cấp tính (tránh giảm áp lực đột ngột), sau đó thì xử trí như sảy thai, kết hợp với điều trị triệu chứng.


Chẩn đoán thai nghén


I.                  CHẨN ĐOÁN THAI NGHÉN
Thời gian nghén trung bình là 40 tuần lễ, tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. khi có thai, người phụ nữ có nhiều dấu hiệu biểu hiện trên cơ thể, có thể dựa vào đó để xác định trạng thái nghén. Khi thai đã lớn, thấy các cử động của thai nhi trong bụng, nhưng trong những tuần đầu tiên của thai nghén, việc xác định tình trạng có thai không dễ dàng. trước đây khi chưa có các phương tiện hỗ trợ đáng tin cậy như hiện nay (que thử thai nhanh, siêu âm) thì chỉ khi thai ngoài 3 tháng mới có thể xác định một cách chắc chắn.
1.     Chẩn đoán thai nghén trong 4 tháng rưỡi đầu:
1.1.         Dấu hiệu lâm sàng:
-         Tắc kinh: Một phụ nữ đã có sinh hoạt tình dục, đột nhiên tắt kinh thì việc đầu tiên nghĩ đến có thai. Tất nhiên mất kinh có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng với người có kinh nguyệt hàng tháng, nay mất kinh thì trên 90% là do thai nghén.
-         Tình trạng nghén: Trong dân gian gọi là "ốm nghén" biểu hiện bằng các triệu chứng:
+ Người phụ nữ cảm thấy mỏi mệt, uể oải, có rối loạn về giấc ngủ: có thể lúc nào cũng buồn ngủ, có khi ban ngày thì ngủ gà ngủ gật, nhưng đêm lại không ngủ được. tính tình cũng nhiều thay đổi: dễ bị kích thích, hay cáu gắt, buồn vui thất thường, có khi chẳng vì lý do gì cũng sụt sùi khóc lóc.
+ Ăn uống trở nên thất thường, bữa chính thì ăn uể oải, nhưng lại hay ăn vặt và thèm ăn các thức ăn chua, ngọt hay cay, đắng, có khi sợ các thức ăn trước nay vẫn thích. Có người còn ăn linh tinh các thứ rất đặc biệt như ăn đất sét nướng, ăn vôi vữa trên tường.
+ Thường hay ứa nước bọt, lợm giọng buồn nôn và nôn. Hay nôn vào buổi sáng hoặc sau khi ăn, thậm chí có người còn nôn nặng: ăn gì nôn nấy, hết thức ăn thì nôn khan, có khi nôn cả ra mật đắng.
-         Thay đổi ở vú: Từ khi tắt kinh vú luôn luôn căng, tức, nắn vào hơi đau và thấy các thùy tuyến vú giống như các ngày sắp kinh trước đây. sau vài tuần chậm kinh, quầng vú và núm vú đổi mầu thẫm dần và tại quầng vú nổi caccs hạt nhỏ. trên da ngực có các tĩnh mạch nổi lên khá rõ.
-         Thân nhiệt thường hơi cao: Trong 3 – 4 tháng đầu, do sự tồn tại của hoàng thể thai nghén.
-         Rối loạn đi tiểu: Hay có triệu chứng đái rắt, vì bàng quang bị kích thích, nhưng không bao giờ đái buốt, đái máu hay đái mủ.
-         Nếu khám phụ khoa: Sẽ thấy niêm mạc âm đạo và cổ tử cung có mầu tím, do xung huyết. Cổ tử cung mềm, phần ngoài mềm hơn phần ở giữa. thân tử cung mềm và to ra, nên ngón tay đặt ở túi cùng bên đẫ chạm được đến thân tử cung (dấu hiệu Noble). Trong lúc khám có thể thấy tử cung co bóp, nên đang mềm thấy chắc lại. khi sờ bụng dưới những tuần đầu thường chưa phát hiện được gì, từ tuần thứ 8 trở đi có thể nắn thấy đáy tử cung trên xương mu và trung bình mỗi tháng đáy tử cung cao thêm lên 4 cm. khi thai được 20 tuần, đáy tử cung thường ngang với rốn.
-         Cuối thời kỳ này: Vào khoảng tuần thứ 20 có thể nghe thấy tim thai khi khám và thai phụ có thể thấy thai bắt đầu sử động (thai máy). Chửa con dạ cảm giác thấy thai máy sớm hơn (18 – 20 tuần), con so thấy máy muộn hơn (20 – 22 tuần) vì chưa có kinh nghiệm.
1.2.         Xét nghiệm: Hỗ trợ cho thăm khâm lâm sàng có thể giúp thầy thuốc và hộ sinh chuẩn đoán thai nghén từ rất sớm:
-         Dùng que thử thai nhanh: Nhúng que thử vào nước tiểu, nếu trên que xuất hiện 2 vạch đỏ thì phản ứng dương tính, người phụ nữ đã có thai. nếu chỉ đỏ 1 vạch là phản ứng âm tính. độ chính xác của xét nghiệm có thể tới 95% từ khi mới chậm kinh 5 ngày trở đi (thai tuần thư 5).
-         Thăm dò bằng siêu âm: Trên màn hình sẽ xuất hiện túi ối trong tử cung với mầm thai và có thấy được cả nhịp đập của ống động mạch nguyên thủy của thau từ tuần thứ 6.
-         Chú ý: Nghiêm cấm chẩn đoán giới tính của thai nhi.
2.     Chẩn đoán thai nghén 4 tháng rưỡi sau:
2.1.         Dấu hiệu lâm sàng:
-         Ở thời kỳ này các triệu cứng có thai đã rõ ràng. các dấu hiệu cơ năng về tình trạng thai nghén đã hết. Các dấu hiệu thực thể tại vú vẫn tồn tại và phát triển.
-         Bụng thai phụ mỗi ngày một to thêm.
-         Thai phu nhận biết được cử động của thai trong tử cung (thai máy). trường hợp không nhớ ngày kinh cuối có thể căn cứ ngày thai máy lần đầu để dự đoán tuổi thai.
-         Khi khám nắn bụng có thể thấy các phần của thai nhi bập bềnh trong buồng ối, có thể đo được chiều cao tử cung, nghe được tim thai. Vào những tuần cuối của thai nghén, qua sờ nắn ngoài có thể xác định được những vị trí thai nằm trong tử cung, để chẩn đoán ngôi thế của nó.
2.2.         Cận lâm sàng: Siêu âm chẩn đoán thai , rau, ối.
3.     Chẩn đoán phân biệt:
3.1.         Trong giai đoạn đầu:
-         Các bệnh nội khoa hoặc nội tiết gây mất kinh.
-         Trường hợp có thai giả (thai tưởng tượng) do quá mong muốn có thai hoặc quá sợ mang thai, người phụ nữ không thụ tinh nhưng cũng thấy mất kinh, nghén giống như người có thai thật.
-         Những trường hợp thấy tử cung to và mềm, nhưng lại là u xơ tử cung hoặc nhầm một u nang buồng trứng với tử cung.
3.2.         Trong giai đoạn sau: Rất ít khi nhầm lẫn nhưng cũng cần phân biệt với:
-         Các bệnh có khối u, tích mỡ ở bụng do béo phì hoặc cổ trướng (dịch trong ổ bụng) làm bụng mỗi ngày ta ra.
-         Trường hợp chửa giả người phụ nữ cũng có thể thấy bụng to dần ra, có cảm giác và khẳng định với thầy thuốc là thai máy. Nên nhớ đây là bệnh lý về tinh thần, chứ không phải giả có thai vì một mưu đồ không tốt nào đó.
4.     Cách tính tuổi thai và dự đoán ngày sinh:
4.1.         Tính tuổi thai và dự đoán ngày sinh: Tuổi thai đúng ra phải tính từ khia thụ tinh đến ngày sinh, nhưng vì không có cách nào xác định được ngày thị tinh nên người ta thống nhất lấy ngày đầu của kỳ kinh cuối để bắt đầu tính tuổi thai, mặc dầu ngày đố khó có thể thụ tinh theo tuần hoặc ngày.
-         Ví dụ: Một phụ nữ có ngày đầu cảu kỳ kinh cuối là 20 tháng 2 năm 2003. Đến ngày 25 tháng 4 được đăng ký thai nghén. Tuổi thai của người phụ nữ nầy sẽ là:
+ Từ 20/2 đến 19/3: 28 ngày (tháng 2 chỉ có 28 hoặc 29 ngày).
+ Từ 20/3 đến 19/4: 31 ngày (tháng 3 chỉ có 31 ngày).
+ Từ 20/4 đến 25/4: 5 ngày.
                        Cộng: 64 ngày (hay 9 tuần 1 ngày).
-         Trên thực tế khi tính tuổi thai cần có một tờ lịch của năm hoawacj một quyển lịch bỏ túi.
-         Trường hợp thai phụ không nhớ ngày kinh hoặc không có kinh (ddabf cho con bú chẳng hạn) thì có thể dựa vào ngày đầu tiên có cảm giác thai máy, kho đó với thai lần đầu: tuổi thai 20 – 22 tuần, nếu thai con rạ: tuổi thai sẽ là 10 – 20 tuần.
4.2.         Dự kiến ngày sinh:
-         Thai được coi là đủ tháng khi tuổi thai đủ 37 tuần đến hết 41 tuần, trung bình là 40 tuần (tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối).
-         Trường hợp thai phụ nhớ được ngày kinh dương lịch: Áp dụng công thức sau:
+ Ngày dự kiến sinh: Ngày đầu kỳ kinh cuối + 7 ngày.
+ Tháng dự kiến sinh: Tháng có kỳ kinh cuối + 9 (hoặc -3). (+ 9 khi tháng còn kinh nhỏ hơn 4 và trừ 3 khi tháng có kinh cuối cùng từ tháng thứ 4 trở đi).
+ Tuổi thai tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối đến ngày dự tính tròn 40 tuần.
-         Ví dụ 1: Chị An đang có thai, ngày đầu kỳ kinh cuối là 21/2/2003. Dự kiến ngày sinh của chị là:
+ Ngày dự kiến sinh: 21 + 7 = 28.
+ Tháng dự kiến sinh: 2 + 9 = 11.
Kết quả: Dự kiến ngày sinh của chị An là: 28/11/2003.
- Ví dụ 2: Chị Lâm có thai, ngày đầu của kỳ kinh cuối là 28/8/2003. Dự kiến ngày sinh cảu chị là:
+ Ngày sinh dự kiến: 28 + 7 = 35.
+ Tháng sinh dự kiến: 8 – 3 = 5.
Kết quả: Dự kiến ngày sinh của chị Lâm: 35/5/2004. hay 5/6/2004.
-         Trường hợp thai phụ nhớ ngày kinh theo lịch âm. Vì các tháng âm lịch đủ chỉ có 30 ngày và tháng thiếu đều là 29 ngày, khác với dương lịch (tháng đủ 31, tháng thiếu 30, riêng tháng 2 hàng năm chỉ cos28 hoặc 29 ngày), vì thế công thức tính ngày sinh dự kiến theo âm lịch như sau:
Ngày dự kiến sinh: Ngày đầu kỳ kinh cuối (theo âm lịch) + 15.
Tháng dự kiến sinh: Tháng có kỳ kinh cuối (theo âm lịch) + 9 (hoặc – 3).
*Chú ý: Các năm nhuận âm lịch sẽ dôi ra hẳn 1 tháng chứ không như năm nhuận dương lịch chỉ dôi ra có 1 ngày (ngày 29/2). Vì thế khi tính ngày dự kiến sinh theo lịch âm cần chú ý xem trong năm đó hoặc năm sau có phải là năm nhuận không và nếu có thì nhuận vào tháng nào để tính được chính xác ngày tháng sinh dự kiến.
II. QUẢN LÝ THAI NGHÉN
     Quản lý thai nghén bao gồm hai công việc là đăng ý thai nghén và theo dõi người có thai trong suốt quá trình thai nghén, nhằm kịp thời phát hiện các nguy cơ có thể dẫn đến tai biến sản khoa, để có biện phá phong ngừa và sử lý đúng đắn nhất.
1.     Đăng ký thai nghén:
Là công việc lập danh sách toàn bộ số phụ nữ có thai, tại một cơ sở do người hô sinh phụ trách. Muốn làm được như vậy, phải phatshieenj được người có thai và càng phát hiện sớm càng tốt. Để làm được việc phát hiện này, cần làm tốt công tác giáo dục sức khỏe, truyền thông tư vấn trong cộng đồng, để người phụ nữ khi chậm kinh, hoặc nghi ngờ có thai là đến với cán bộ y tế. mặt khác phải xây dựng một mạng lưới y tế thôn bản và cộng tác viên hoạt động trong cộng đồng, để giúp người hộ sinh công tác tại cơ sở nắm bắt tình hình kịp thời nhất.
2.     Công cụ quản lý thai nghén tại tuyến y tế cơ sở:
Để quản lý được thai nghén tại cơ sở, cần có 4 công cụ quản lý thai nghén sau đây:
-         Sổ đăng ký đồng thời là sổ khám thai.
-         Phiếu khám thai hoặc phiếu theo dõi sức khỏe bà mẹ tại nhà (nếu có).
-         Ngăn kéo để lưu phiếu khám hoặc phiếu hẹn.
-         Bảng theo dõi quản lý thai tại cơ sở.
2.1.         Sổ khám thai: Là sổ đã được in sawtx do Bộ Y Tế lập để thực hiên thống nhất trong cả nước. Sổ có 27 cột để khi đăng ký và thăm khám, người hộ sinh sẽ ghi các số liệu và tình hình phát hiện được vào từng cột đó. khi các thông tin được ghi đầy đủ, sổ khám thai sẽ giúp cán bộ y tế quản lý tốt sức khỏe thai phụ và có thể đánh giá được chất lượng công việc mình làm.
2.2.         Phiếu khám thai: Hiện nay, tùy từng địa phương phiếu này có thể in hình thức khác nhau, nhưng các thông tin chung trong các phiếu khám thai thường giống nhau. Phiếu dùng để ghi chép tình hình mỗi lần khám thai, từ tình trạng chung của thai phụ đến các số liệu nói lên sự  diễn biễn toàn thân, cũng như về thai nghén.
2.3.         Ngăn kéo để lưu phiếu khám thai hay phiếu hẹn: Đay là một ngăn kéo có 12 ô, mỗi ô để lưu phiếu khám thai (nếu khi khám thai được ghi trên 2 phiếu, một cho thai phụ giữ, một để lưu ở cơ sở y tế) hoặc phiếu hẹn khám của một tháng trong năm.
-         Trường hợp không có ngăn kéo 12 ô, có thể dùng 12 túi để đựng các phiếu theo từng tháng. công cụ này giúp cho người hộ sinh theo dõi được sát sao tình hình khám thai định kỳ của từng thai phụ.
-         Giả sử đang ở tháng thứ 5 nhưng thai phụ cần khám vào tháng 5 đều đã có phiếu trong ô hay túi tên tháng đó. khi thai phụ tới khám, tìm phiếu lưu trong đó sẽ thấy và phiếu sẽ được ghi các thông tin sau khi đã khám. tùy theo hẹn đến khám lần sau, mà phiếu lưu này sẽ được để vào ô hay túi phù hợp.
2.4.         Bảng theo dõi quan lý thai tại cơ sở: Đây là một bảng lớn bằng nhựa, kích thước khoảng 160 và 120 cm được kẻ thành 13 cột dọc, trong đó cột đầu tiên để ghi tên thôn xóm và 12 cột sau để ghi tên tháng từ tháng giêng đến tháng 12 của năm.
-         Các ô ngang, mỗi thôn một ô và tùy theo số thôn xóm mà số ô ngang sẽ được gắn vào đó các "con tom" là một mảnh giấy nhỏ trên đó ghi tên, tuổi thai phụ của thôn xóm đó và tháng dự kiến đẻ của họ (đung vào tháng của ô đó) cùng các chi tiết khác nếu cần thiết.
-         Dưới các ô ngang ghi thôn xóm là ô cộng ghi tổng số nười được dự kiến sinh trong tháng.
-         Ô ngang cuối cùng trong bảng là ô sau đẻ, dành để dán các trường hợp đã sinh trong tháng, được bóc từ các ô phía trên đưa xuống.
-         "con tôm" có thể làm bằng bìa có mầu khác nhau, mỗi màu là một ký hiệu cho biết lần đẻ sắp tới của thai phụ. Ví dụ thường dùng màu xanh cho người sẽ đẻ lần một, màu vàng cho người sẽ đẻ lần hai, màu đỏ cho người đẻ từ lần ba trở lên. tốt nhất là dung giấy thuộc loại chỉ cần bóc bỏ nên lót là có thể gián ngay trên bảng. trường hợp bảng bằng bìa thì phải khâu đính sẵn trên các ô trong bảng, các khuyết bằng chỉ để có thể gai con tôm vào đó.
-         Nội dung ghi trên con tôm, tối thiểu phải có các thông tin sau: Họ và tên thai phụ - Tuổi – Ngày đầu kinh cuối – Ngày dự kiến sinh.
-         Lợi ích của bảng theo thai là:
+ Biết được số sẽ sinh trong từng tháng, trên cơ sở đó đặt kế hoạch phục vụ, đặc biệt trong những tháng có thiên tai (bão lũ lụt) đây sẽ là những đối tượng cần ưu tiên phục vụ và chăm sóc.
+ Có thể cho biết việc phát hiện thai nghén để đăng ký có sớm hay không.
+ Nếu đến hết tháng số tôm vẫn còn hiện lại trên bảng, thì phải xem nguyên nhân: Thai phụ đã đẻ (ở nhà hoặc ở cơ sở khác), còn nếu chưa đẻ, thì có thể là thai đẫ quá hạn, càn được xử trí.

- Tất cả 4 công cụ quản lý thai được thực hiện tốt, sẽ là bằng chứng đánh giá chất lượng quản lý thai của cán bộ y tế cơ sở.

U sơ tử cung

1. Đại cương

- Định nghĩa: u xơ tử cung là những khối u lành tính ở cơ tử cung, còn được gọi là u xơ cơ tử cung vì được cấu tạo tử tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung.
- Tỷ lệ:
+ ở Mỹ theo thống kê của tác giả Raph Benson có tới 20% số phụ nữ > 35 tuổi có nhân xơ ở tử cung.
+ Ở Việt Nam chưa xác định được tỷ lệ u xơ tử cung trong cộng đồng vì nhiều khi khối u nhỏ không phát hiện được. Theo tác giả Dương Thị Cương thì ư xơ tử cung chiếm tỷ lệ 18 -20% trong tổng số các bệnh phụ khoa, bệnh thường gặp ở phụ nữ từ 35- 50 tuổi, các khối u thường gây nên vô sinh hoặc không sinh đẻ được.
- Cơ chế bệnh sinh: chưa rõ ràng, nhưng có nhiều giả thuyết cho rằng do có tình trạng cường estrogen thì u xơ mới phát sinh được.
2. Đặc điểm giải phẫu bệnh
2.1. Đại thể
U xơ tử cung là những khối u tròn, đặc, mật độ chắc, mầu trắng ngà giới hạn rõ với lớp cơ tử cung bao quanh có mầu hổng.
- Về số lượng: có một hoặc nhiều nhân xơ ở nhiều vị trí khác nhau.
- Về kích thước: to nhỏ khác nhau.
U xơ tử cung giới hạn với thành tử cung bởi một lớp vỏ bọc và một lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo, từ lớp vỏ này có những mạch máu nhỏ đi vào khối u.
2.2. Vi thể
Trong nhân xơ thấy các sợi xơ, sợi cơ và tổ chức liên kết đan lẫn nhau và xếp thành hình xoáy ốc
Hình 8.  Các vị trí u sơ tử cung
3. Phân loại: theo vị trí giải phẫu u xơ tử cung được phân thành 3 loại:
3.1. U xơ ở thân tử cung:
Ở vì trí này hay gặp nhất, tuỳ theo vị trí của khối u trên thành tử cung mà người ta chia làm 3 loại :
- U dưới niêm mạc: phát triển tử lớp cơ tử cung, lớn lên về phía niêm mạc làm thay đổi hình dạng buồng tử cung. Có khi u dưới niêm mạc phát triển thành u có cuống dài thò ra qua có tư cúng ra âm đạo, trường hợp này dễ bị nhiễm khuẩn và chẩy máu.
-U kẽ:.pháftriển trong lớp cơ tử cung, loại này phát triển tương đối nhanh, khối u có thể phát triển rất to làm biến dạng hình thể tử cung và gây chèn ép các tạng trong tiểu khung.
- U dưới phúc mạc: phát sinh tử lớp cơ tử cung, phát triển về phía phúc mạc, loại này thường phát triển chậm, có cuống dài hoặc nằm lọt vào giữa hai lá phúc mạc của đây chằng rộng khó khăn cho việc chẩn đoán và phẫu thuật.
3.2. U xơ ở eo tử cung
Phát triển trong tiểu khung và thường gây chèn ép các tạng xung quanh. Khi chuyển dạ u xơ ở eo tử cung sẽ trở thành khối U tiền đạo Cản trở quá trình lọt, xuống, quay, sổ của thai và là nguyên nhân gây đẻ khó.
3.3. U xơ ở cổ tử cung
Khối u thường phát triển về phía âm đạo dưới dạng polype.
4. Triệu chứng
Triệu chứng của u xơ tử cung phụ thuộc vào vị trí, số lượng và thể tích của nhân xơ.
4.1 Triệu chứng cơ năng
Ra huyết là triệu chứng quan trọng nhất, thường xuất hiện trước tiên. Lúc đầu huyết ra dưới dạng rong kinh, sau đó là cường kinh và dần dần dẫn đến băng huyết khi chu kì kinh bị rối loạn.
Ra khí hư: khí hư loãng, có khi ra rất nhiều thành từng đợt, không hôi, khi khí hư lẫn mủ có mùi hôi lúc đó đã có nhiễm khuẩn.
Các triệu chứng gây ra do sự chèn ép của khối u:
+ Nếu khối u phát triển to bệnh nhân sẽ có cảm giác tức nặng bụng dưới, đau tức vùng hạ vị.
+ Nếu khối u phát triển ra phía trước chèn ép vào bàng quang sẽ gây tiểu tiện nhiều lần hoặc bí tiêu tiện.
+ Nếu khối u phát triển ở eo tử cung hoặc trong dây chằng rộng sẽ chèn ép vào niệu quản gây tình trạng ứ nước bể thận.
+ Nếu u phát triển ra phía sau chèn ép vào trực tràng sẽ gây táo bón hoặc đau khi đại tiện. Chèn ép vào đám rối thần kinh thắt lưng sẽ làm bệnh nhân đau âm ỉ vùng thắt lưng lan xuống đùi.
- Đau bụng: bệnh nhân thường đau theo kiểu thống kinh do tở cung tăng co bớp, ngoài ra có thể đau bụng cấp hoặc đau âm ỉ vùng hạ vị khi khối u đã có biến chứng xoắn, hoại tử hoặc nhiễm khuẩn.
4.2. Triệu chứng toàn thân
Giai đoạn đầu huyết ra ít thì toàn thân ít bị ảnh hưởng.
- Giai đoạn sau khi có rối loạn kinh nguyệt kéo dài sẽ gây cho bệnh nhân tình trạng thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt
4.3. Triệu chứng thực thể
Nếu khối u to phát triển lên phía ổ bụng thì sờ nắn qua thành bụng có thể thấy được khối u ở vùng hạ vị, mật độ chắc, ranh giới rõ, di động hạn chế.
- Thăm âm đạo kết hợp với sờ nắn trên thành bụng thì tuỳ tửng loại u xơ mà phát hiện các triệu chứng sau:
+ U dưới phúc mạc: sờ thấy tử cung to chắc, mặt ngoài tử cung biến dạng lồi lõm, thấy nhân xơ lồi về phía ổ bụng Và di động theo tử cung.
+ U kẽ: khám thấy tử cung to toàn bộ, mật độ chắc.
+ U dưới niêm mạc: thăm âm đạo thấy tử cung thường không to, nếu u dưới niêm mạc dạng có cuống thò ra ngoài cổ tử cung thì qua thăm khám bằng đặt mỏ vịt thấy khối u được dễ dàng.
- Đo buồng tử cung: buồng tử cung thường sâu hơn bình thường.
4.4. Triệu chứng cận lâm sàng
- Siêu âm: thấy được hình thể, kích thước của tử cung. Ngoài ra đánh giá chính xác vị trí, số lượng, kích thước nhân xơ.
Chụp buồng tử cung có bơm thuốc cản quang: thấy hình ảnh buồng tử cung to lên hoặc bị kéo dài, biến dạng có hình khuyết bờ đều.
- Nạo sinh thiết niêm mạc tử cung làm xét nghiệm giải phẫu bệnh: thấy.niêm mạc tử cung quá sản, các tuyến chế tiết nhiều (hình ảnh cường estrogen)
5. Chẩn đoán
5.1. Chẩn đoán ở tuyến cộng đồng: dựa vào
- Tiền sử lượng máu kinh tăng lên ở một phụ nữ trong độ tuổi 40 - 45.
- Đau bụng khi hành kinh.
Nếu khối u to, người phụ nữ có thể tự sờ nắn thấy một khối rắn chắc ở vùng dưới rốn.
- Nếu khối u nhỏ thì khi thăm khám âm đạo thấy tử cung chắc, không đều
5.2. Chẩn đoán ở tuyến chuyên khoa
5.2.1. Chẩn đoán xác định: dựa vào
- Có rối loạn kinh nguyệt: rong kinh, cường kinh, băng huyết.
- Thăm âm đạo kết hợp với sờ nắn ngoài thấy nhân xơ di động cùng với cổ tử cung
- Siêu âm thấy được hình ảnh nhân xơ.
- Chụp buồng tử cung có bơm thuốc cản quang: thấy hình ảnh buồng tử cung bị biến dạng, có hình khuyết bờ đều.
5.2.2. Chẩn đoán phân biệt:
+ Có thai :
- Thai thường: thăm âm đạo thấy tử cung to nhưng hỏi kĩ tiền sử có tắt kinh, có nghén. HCG (+) và siêu âm thấy hình ảnh túi ối trong buồng tử cung mà không thấy hình ảnh nhân xơ.
- Doạ sẩy: tử cung to và ra huyết, nhưng khi hỏi bệnh và thăm khám, làm xét nghiệm như trên thì phát hiện thất đó là trường hợp có thai trong tử cung.
- Thai chết lưu: tử cung cũng to cũng ra huyết kéo dài và xét ngiệm HCG (-), nhưng siêu âm thấy hình ảnh túi ối trong buồng tử cung méo mó.
- Khối u buồng trứng (hay nhầm với u xơ dưới phúc mạc có cuống). Khối u nằm lệch về một bên hố chậu tách biệt với tử cung và di động biệt lập với tử cung. Chắc chắn nhất là chụp buồng tử cung vòi trứng có bơm thuốc cản quang thấy buồng tử cung bình thường nhưng vòi trứng bên khối u bị kéo dài giãn mỏng.
- Ung thư nội mạc tử cung: thường gặp ở bệnh nhân đã mãn kinh đột nhiên ra huyết âm đạo bất thường, khám tử cung to. Chụp buồng tử cung thấy buồng tử biến dạng hình khuyết bờ nham nhở (hình ảnh ruột bánh mỹ). Nạo ảnh thiết niêm mạc tử cung làm giải phẫu bệnh thấy có tế bào ác tính.
6. Tiến triển và biến chứng
6. 1. Tiến triển
U xơ tử cung thường tiến triển chậm trong một vài năm. Trong quá trình tiến triển một số khối u nhỏ, nằm ở giữa lớp cơ tử cung hoặc phát triển về phía phúc mạc có thể không gây ra biến chứng gì. Một số khối u có thể mất sau một vài lần thai nghén hoặc ngừng phát triển khi người phụ nữ đã mãn kinh. Tuy nhiên u xơ tử cung cũng có thể gây ra rất nhiều các biến chứng nguy hiểm.
6.2. Biến chứng
6.2.1. Thiếu máu:
Do kinh nguyệt nhiều và kéo dài làm cho bệnh nhân mất máu. Có thể mất máu ít gây triệu chứng da xanh, hoa mắt chóng mặt. Nhưng cũng có thể mất máu nhiều gây trụy mạch cần phải xử trí cấp cứu ngay.
6.2.2. Nhiễm khuẩn:
Có thể gây nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới, nhiễm khuẩn đường sinh dục trên hoặc nhiễm khuẩn tại khối u. Thường gặp ở những u xơ dưới niêm mạc gây chảy máu nhiều và kéo dài.
6.2.3. Chèn ép:
Tuỳ theo vị trí và kích thước của khối u mà gây ra những triệu chứng chèn ép khác nhau. Triệu chứng thường gặp là: đái khó, táo bón, đau vùng hạ vị hoặc đau mỏi thắt lưng. Triệu chứng ít gặp hơn: ứ nước bể thận, viêm đài bể thận do chèn ép vào niệu quản.
6.2.4. Xoắn cuống nhân xơ.
Là biến chứng hay gặp đối với nhân xơ dưới phúc mạc có cuống. Triệu chứng giống như một trường hợp u nang buồng trứng xoắn: bệnh nhân đau bụng đột ngột ở vùng hạ vị, đau tăng dần và kèm theo choáng, bụng có cảm ứng phúc mạc.
6.2.5. Thoái hoá:
Khi khối u to thường bị thiểu dưỡng nên dễ bị thoái hoá dưới nhiều hình thức khác nhau: thoái hoá kinh, thoái hoá nhảy, thoái hoá nang. Những hình thức thoái hoá này tạo nên những u xơ mềm hoặc cứng làm cho việc chẩn đoán dễ bị sai lạc.
6.2.6. Biến chứng khi có thai:
Trên bệnh nhân có u xơ thì giữa u xơ tử cung và thai nghén có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, biểu hiện:
- Thai dễ bị sẩy hoặc đẻ non, rau bám bất thường có thể gây rau tiền đạo hoặc rau cài răng lược, ngôi thế bất thường, u tiền đạo băng huyết do đờ tử cung và sót rau.
- U xơ to và gây biến chứng xoắn, hoại tử hoặc nhiễm khuẩn.
7. Điều trị
7.1. Tại tuyến cơ sở
Không phải tất cả các trường hợp u xơ đều phải điều trị. Đối với các khối u nhỏ, chưa gây biến chứng có thể theo dõi tại cơ sở, khám phụ khoa định kỳ 3 tháng 1 lần. Đa số khối u teo nhỏ sau tuổi mãn kinh. Nếu theo dõi thấy khối u to lên hoặc gây biến chứng chảy máu kinh nguyệt nhiều cần chuyển tuyến chuyên khoa khám và điều trị.
7.2. Ở tuyến chuyên khoa
Chỉ điều tử những trường hợp u xơ tử cung to hoặc đã gây biến chứng, tuỳ theo lứa tuổi tình trạng toàn thân, nguyện vọng của người bệnh và tiến triển của bệnh mà có thể hướng xử trí khác nhau.
7.2.1. Nạo cầm máu:
Trong trường hợp u xơ tử cung gây biến chứng chảy máu nhiều, bệnh nhân phải vào viện dùng thuốc tăng co bóp tử cung. Nếu không cấm được máu phải hút buồng tử cung để niêm mạc tử cung bong hoàn toàn, giúp tử cung co hồi tốt hơn và sẽ cầm máu. Nếu văn không cầm được máu phải mổ cấp cứu cắt tử cung.
7.2.2. Phương pháp phẫu thuật: là phương pháp điều trị chủ yếu và triệt để.
+ Chỉ định:
- U xơ tử cung to.
- U xơ tử cung đã gây biến chứng: chèn ép, chảy máu nhiều.
- U dưới niêm mạc có cuống.
- U ở cổ tử cung, u mắc kẹt trong tiểu khung.
+ Các phương pháp phẫu thuật:
- Bóc tách nhân xơ: tử cung và chức năng của nó vân được bảo tồn
Chỉ định: bệnh nhân còn trẻ, còn nguyện vọng sinh đẻ. Số lượng nhân xơ ít (l-2 nhân xơ), ở vị trí có thể bóc tách được
- Xoắn bỏ nhân xơ qua đường âm đạo:
Chỉ định: với những khối u dưới niêm mạc có cuống thò ra âm đạo (thường là những polype có chân ở trong buồng tử cung)
Nhược điểm của phương pháp này là dễ tái phát.
 Cắt tử cung.qua đường bụng, đường âm đạo hoặc qua nội soi: là phương pháp điều trị triệt để nhất
- Cắt tử cung bán phần: chỉ định đối với khối u to, u gây biến chứng, u dưới niêm mạc, nhiều nhân xơ tập trưng ở thân tử cung.
- Cắt tử cung toàn phần: chỉ định đối với khối u ở eo tử cung, u ở cổ tử cung hoặc u ở thân có kèm theo tổn thương nghi ngờ ở cổ tử cung.
7.2.3. Điều trị nội khoa:
Điều trị nội ba chỉ làm giảm bớt triệu chứng chứ hoàn toàn không có khả năng làm teo khối u xơ cơ tử cung
+ Chỉ định:
- Bệnh nhân còn trẻ tuổi, còn mong muốn có con
- Nhân xơ nhỏ kích thước u dưới 5mm, tiến triển chậm, chưa có biến chứng hoặc chỉ có rong huyết
- Bệnh nhân chờ đợi phẫu thuật.
+ Điều trị cụ thể: dùng nội tiết liệu pháp
- Orgametrin 5mg/ ngày uống tử ngày thứ 16 - 21 của vòng kinh, uống liền 6 chu kỳ. Sau đó phải kiểm tra kích thước khối u có nhỏ hay không.
- Noristera 200mg tiêm bắp 3 tháng một lần, dùng vài đợt.
- Depo - provera hoặc DPMA 150mg tiêm bắp 3 tháng 1 lần, dùng vài đợt sau đó kiểm tra kích thước của nhân xơ.
7.2.4. Thái độ xử trí khi mang thai:
Cần theo dõi quản lý thai nghén chặt chẽ để phát hiện sớm các biến chứng và xử trí kịp thời.
Không có chỉ định phẫu thuật bóc tách nhân xơ trong khi có thai.

Trong chuyển dạ cần theo dõi sát, nếu gây biến chứng trong chuyển dạ: rối loạn cơn co tử cung, khối u tiền đạo... cần chỉ định mổ lấy thai. Nếu đẻ được đường dưới cần đề phòng biến chứng chảy máu sau đẻ do đờ tử cung, rau bám chặt và hoại tử nhân xơ trong thời kỳ hậu sản.
Liên hệ : Dương Văn Nam | PhuongNamBlog
Copyright © 2020. Phương Nam Blog
Xem tôt nhất bằng trình duyệt: Chrome hoặc firefox
Được thiết kế trên Blogger